Vòng Chung kết Young Marketers mùa 14: Khi người trẻ bước vào đối thoại lớn về thương hiệu quốc gia (P1)

Vòng Chung kết Young Marketers mùa 14: Khi người trẻ bước vào đối thoại lớn về thương hiệu quốc gia (P1)

Vào sáng ngày 13/12/2025, Vòng Chung kết Young Marketers mùa 14 đã được diễn ra như một không gian đối thoại nghiêm túc giữa các thế hệ – nơi người trẻ được đặt vào một bài toán lớn: định vị thương hiệu quốc gia Việt Nam trong tầm nhìn hướng đến 2045 – “Defining How The World Sees Us”.

Có thể thấy qua đó, marketing không còn là câu chuyện của chiến dịch hay khẩu hiệu, mà trở thành một phần của tư duy chiến lược quốc gia, gắn với văn hóa, giáo dục, kinh tế, ngoại giao, tính chất địa chính trị và sức mạnh mềm của đất nước.

Sân chơi nơi “cây đa cây đề” đặt niềm tin vào thế hệ trẻ dám nghĩ dám làm

Sự hiện diện của Hội đồng Ban giám khảo – gồm 8 chuyên gia nổi bật đại diện cho Ngoại giao, Văn hoá, Giáo dục, Khoa học – Công nghệ, Kinh tế, Marketing & Chiến lược:

Nghệ sĩ Nhân dân, Tiến sĩ nghệ thuật Bạch Tuyết; Nhà ngoại giao kỳ cựu Tôn Nữ Thị Ninh; Các học giả đầu ngành: Tiến sĩ Đinh Vũ Trang Ngân (Hiệu trưởng trường Đại học Fulbright Việt Nam), Giáo sư Dương Nguyên Vũ (Phó Hiệu trưởng Đào tạo Sau Đại Học, Trường Đại học VinUni), Chuyên gia Kinh tế & Chiến lược Phát triển Doanh nghiệp – ông Trần Sĩ Chương; đến những tên tuổi lớn trong marketing, chiến lược và sáng tạo như anh Nguyễn Đình Toàn, chị Phạm Nhã Uyên hay anh Hùng Võ – tất cả đều có mặt trọn vẹn để lắng nghe, chia sẻ, trao đổi và cùng suy nghĩ với thế hệ kế tiếp.

 Hội đồng Ban giám khảo

Hội đồng Ban giám khảo

Đó cũng chính là tinh thần xuyên suốt của Young Marketers suốt 14 mùa: chuyển giao – tiếp nối – truyền cảm hứng. Một không gian giao thoa – nơi trách nhiệm của các thế hệ Young Marketers được nuôi dưỡng.

Phát biểu mở đầu chương trình, cô Tôn Nữ Thị Ninh đưa ra tinh thần của toàn bộ Vòng Chung kết.

Theo cô, dù là ngoại giao hay marketing, dù tiếp thị quốc gia hay thương hiệu, điểm xuất phát không bao giờ được quên là văn hóa – “Culture never dies”. Làm truyền thông mà tách rời văn hóa là sai, và sẽ không tạo ra giá trị bền vững.

Từ nền tảng đó, cô nhấn mạnh thế hệ trẻ nói chung phải luôn biết được sự khác biệt cốt lõi, điểm mạnh vượt trội của Việt Nam và điểm nhất quán (Singularity) – phải hiểu Việt Nam khác Thái Lan, Indonesia, Philippines và các quốc gia khác ở đâu, vượt trội hơn ở điểm nào. Cùng với đó, phải có năng lực kể chuyện để làm sáng rõ và tôn vinh điểm mạnh ấy.

Cô Tôn Nữ Thị Ninh

Với thương hiệu quốc gia, cô bày tỏ một nỗi trăn trở: câu chuyện của đất nước vẫn chưa được khai thác đủ sâu và đủ mạnh. Khi Việt Nam có một câu chuyện mạnh (strong Vietnam narrative), đó sẽ là một tài sản (asset) lớn – không chỉ cho ngoại giao, nhà nước, mà còn có ứng dụng lớn trong đa lĩnh vực, điển hình là ngành Tiếp thị truyền thông. Muốn xây dựng và kể được câu chuyện đó, người trẻ không thể đứng ngoài lịch sử, mà cần dựa vào “hơi thở” và hành trình dài của dân tộc. Tinh thần chính trực cũng được cô đặt ra như một ranh giới không thể thỏa hiệp. Chuyên nghiệp phải đi đôi với chính trực. Chuyên nghiệp là cách thức (the how). Còn chính trực là nền tảng (the foundation).

Và trên tất cả, cô nhấn mạnh rằng những người làm marketing đang trực tiếp tham gia vào việc kiến tạo sức mạnh mềm cho Việt Nam. Cô gọi đó là “sức mạnh”, thay vì “quyền lực”, vì “quyền lực” được ban phát từ trên xuống, còn sức mạnh mềm (soft power) là sức mạnh của sự thuyết phục, được tích lũy qua từng thông điệp, từng câu chuyện về gỗ, gạo, cà phê, công nghệ hay bất kỳ sản phẩm nào mang dấu ấn Việt Nam. Khi thế giới nể trọng những câu chuyện đó, sức mạnh mềm của quốc gia được hình thành mạnh mẽ hơn với đóng góp của chính những người làm sứ mệnh tiếp thị.

Tiêu chí đánh giá bài thi: 80% dành cho chiến lược, 20% dành cho việc kể chuyện và phản biện

Chia sẻ về tiêu chí đánh giá, chị Phạm Nhã Uyên cho biết: 80% tổng điểm dành cho Strategy – mức độ hiểu đúng bối cảnh Việt Nam và thế giới để đưa ra định vị quốc gia phù hợp; 20% còn lại thuộc về storytelling, thuyết trình và phản biện.

Young Marketers mùa 14 vẫn là tạo ra một bài toán marketing thương hiệu nhưng ở tầm vĩ mô hơn, đó là thương hiệu quốc gia, không chỉ ở thời điểm hiện tại mà tầm nhìn về tương lai. Các đội thi sẽ áp dụng những kiến thức nền tảng (fundamentals) của Marketing để xây dựng đề xuất như: Điểm mạnh cốt lõi của quốc gia như một thương hiệu (national truths) – Địa chính trị, lịch sử; căn tính dân tộc, văn hoá, các nguồn lực đặc thù; “Thị trường” (global stage, patterns and foresights) – bối cảnh thời đại, các tầm nhìn dự báo cho 2045, các đặc thù của các cách mạng nông nghiệp, công nghiệp, AI…; “Đối thủ” xu hướng phát triển, dịch chuyển của các quốc gia khác trên thế giới…

Vòng Chung kết năm nay diễn ra như một không gian giao thoa của nhiều góc nhìn – nơi bất đồng, phản biện và những câu hỏi “khó” từ Hội Đồng Giám khảo buộc người trẻ phải đi xa hơn ý tưởng ban đầu, đối diện với các giới hạn của chính mình và của bối cảnh Việt Nam hôm nay.

Nhóm 3 Miền và tham vọng “Asia Sandbox for Future City”

Bắt đầu từ việc xác định xu hướng thế giới năm 2045, nhóm nhận định thế giới sẽ chuyển dịch sang kỷ nguyên kinh tế tri thức, nơi đổi mới sáng tạo tăng tốc. Nhóm chỉ ra (problem statement): trong bối cảnh đổi mới sáng tạo diễn ra nhanh hơn và tạo ra nhiều thách thức hơn, thế giới đang thiếu những không gian thử nghiệm thực tế (sandbox) đủ rộng và linh hoạt.

Nhóm 3 Miền

Nhóm 3 Miền

Đối chiếu trên các lợi thế nền tảng của Việt Nam: dân số trẻ và cởi mở với công nghệ; vị trí địa chính trị cân bằng; chi phí đổi mới có tính cạnh tranh cao; cùng sự đa dạng về địa hình, xã hội và văn hóa. Thay vì cạnh tranh ở vai trò phát minh công nghệ lõi, Việt Nam được có thể trở thành một nơi ứng dụng và hoàn thiện đổi mới có quy mô thực tế.

Nhóm đề xuất định vị: Việt Nam – Asia Sandbox for Future City, nơi các mô hình đô thị tương lai được thử nghiệm, tinh chỉnh và nhân rộng.

Tầm nhìn này được cụ thể hóa qua mô hình One Nation – Multi Sandbox City, với các thành phố đóng vai trò sandbox theo thế mạnh riêng. Điểm sáng của bài làm là cách nhóm gắn định vị quốc gia với căn tính người Việt: hòa hiếu, thích nghi, cởi mở, giàu tinh thần cộng đồng và sáng tạo thực dụng.

Sandbox không chỉ là mô hình kinh tế, mà còn là câu chuyện của đổi mới, của giáo dục mà nó là câu chuyện của con người. Bởi vì chỉ khi Việt Nam nói câu chuyện sandbox thì những người trẻ, công dân tương lai mới có đủ niềm tin và sự tự tin để mà nói về câu chuyện đổi mới, nói về những ý tưởng mới, dám nghĩ dám làm và đưa Việt Nam tiến lên cùng với thế giới mà không e dè.

Những câu hỏi khó – và giới hạn cần vượt qua

Ông Trần Sĩ Chương dành cho nhóm lời khuyên trong việc giải bài toán “Việt Nam được yêu mến nhưng chưa được nể trọng và ngưỡng mộ”

“Tất cả những gì mình làm cho khởi nghiệp hay định hướng chiến lược như thế này thì các em phải tìm ra một cái mũi nhọn. … Phần lớn ít khi mình gặp ai không yêu mến Việt Nam. Nhưng để làm việc được với nhau thì lại cần có sự tôn trọng. Để được tôn trọng thì phải có sự tin cậy. Trong sự tin cậy phải dựa vào những yếu tố có thật. Dĩ nhiên mình đến một tầm nhìn về tương lai với những cái mình chưa có. Nhưng mình phải làm sao để tăng niềm tin để chuyện đó có xác suất cao. Để làm chi? Tôi nhìn đến hình ảnh của Việt Nam không phải hôm nay mà cho năm sau hay năm sau nữa, tôi mạnh dạn take risk, chấp nhận đầu tư cao hơn chút, vì tôi gặp những người như các bạn.”

Cô Tôn Nữ Thị Ninh và chuyên gia Trần Sĩ Chương đồng tình rằng Mô hình sandbox cần được làm rõ hơn để tận dụng được những gì vốn có của Việt Nam: “Vừa rồi tôi rất chú ý một tin là chúng ta sang Cuba để hướng dẫn các bạn tăng năng suất trồng lúa gạo. Riêng điều đó nói lên rằng, cái giá trị gia tăng (added value) mà Việt Nam đã mang vào nông nghiệp chính là xuất khẩu năng lực, năng lực trong nông nghiệp. Vì vậy, đối với mô hình sandbox, dù sao Việt nam cũng là một nước xuất khẩu nông sản rất lớn. Vậy thì nông nghiệp, nông sản kết hợp với quốc gia thử nghiệm sandbox nation của các bạn sẽ như thế nào? Hay sandbox ở đây chỉ gắn và giới hạn trong công nghệ?” - Cô Ninh lưu ý.

Anh Trần Sĩ Chương

“Không có gì thực hơn cho Việt Nam để đi bán nước ngoài bằng nông nghiệp. Vì sao? Một chuyện rất đơn giản. Ông cha mình đã cho mình một mảnh đất này với thổ nhưỡng với khí hậu như vậy, bao nhiêu năm nay mình khai thác nó rất tệ. Kỹ thuật không có, công nghệ không có. Vậy mà mình đã dẫn đầu thế giới rồi. Từ lúa gạo cho tới hạt điều... đều top 3 đến top 7, top 8 cả. Vậy thì tại sao mình không đầu tư vào nông nghiệp và thủy sản? Đó là hai chuyện mà mình có một lợi thế cạnh tranh gần như tuyệt đối.

Chỉ cần làm đúng thôi. Thì các em cần định vị ra một yếu tố cơ bản trong cái hệ sinh thái này. Thí dụ như nông nghiệp. Một chuyện và một chuyện mà thôi. Mình chưa chăm sóc con người đúng trong hệ sinh thái này. Vậy thì tập trung chăm sóc người nông dân cho họ làm tốt cái việc này. Một chuyện đó thôi, đầu tư một chuyện đó thôi là chúng ta không những dẫn đầu thế giới mà chỉ xuất thô mà còn xuất những cái giá trị gia tăng khác nữa.” - ông Trần Sĩ Chương.

Tiến sĩ Đinh Vũ Trang Ngân đặt vấn đề về khoảng cách đô thị – nông thôn và cái giá phải trả nếu dồn nguồn lực cho các “future city”: “Trong chặng đường 20 năm tới nếu chúng ta đi trên con đường các bạn đang mô tả, đầu tư thêm cho những City prototype Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng. Chuyện gì sẽ xảy ra ở những vùng lũ lụt hay là miền Trung, những cái nơi mà không phải ở môi trường đô thị? Mình sẽ phải đánh đổi hay sẽ phải nghĩ trước những điều gì cho khoảng cách giữa việc đầu tư cho các công nghệ đô thị so với những vùng miền nông thôn nơi đang phải gồng gánh rất là nhiều những cái vấn đề cả nội lực của đất nước lẫn thiên tai bên ngoài?”

Giáo sư Dương Nguyên Vũ bày tỏ thẳng thắn: “Mô hình sandbox bản chất nó là sự thử nghiệm. Khi thử nghiệm thì rủi ro rất cao, scale càng lớn thì rủi ro càng nhiều… Nhưng quay lại về tầm nhìn của các em… Trong 20 năm thì thế giới thay đổi rất là nhiều. Mà trong những năm gần đây đó thì cái công nghệ nó làm thay đổi thế giới càng nhiều hơn nữa. Có thể trong 10 năm nữa thôi chúng ta sẽ thay đổi rất nhiều rồi. Bây giờ cái tầm nhìn của mình 20 năm nữa mà mình vẫn còn lấn cấn trong cái sandbox của năm 2025 thì tụi em coi thử cái vấn đề có hợp lý hay không. Tại vì hiện tại Digital Twin đã đủ khả năng để làm những cái simulation cho tất cả cái innovation platform mà không cần phải chạy trên thực tế. Độ realism cũng không xa lắm nếu mình có thể phát triển cái đó với AI, đặc biệt là Physical AI. Thành ra mình nghĩ là cái tầm nhìn của tụi em đó nếu mà 2045 mà chúng ta chỉ là sandbox thì mình sợ là chúng ta đang đi thụt lùi so với thế giới. Lúc đó cái định vị của Việt Nam của mình là còn cái gì, nếu là chỉ là một quốc gia cởi mở là quốc gia chúng ta sẵn sàng để thu nhận những cái mới trên thế giới, tại sao chúng ta không phải là những quốc gia có thể làm ra những cái mới trên thế giới? Giấc mơ của mình e là không có đủ lớn…”

Nhóm Đỏ Vàng Ngôi Sao và tầm nhìn “Vietnam – Reliable Strategic Connector”

Đội Đỏ Vàng Ngôi Sao mở đầu phần trình bày bằng một câu hỏi mang tính nhân sinh: một đứa trẻ sinh ra hôm nay sẽ bước vào thế giới 2045 với tư cách công dân của một thế giới rộng mở với Việt Nam hay cánh cửa khép kín?

Đi từ những xu hướng lớn (megatrends) định hình thế giới trong các thập kỷ tới, nhóm nhận định bối cảnh thế giới sẽ rơi vào trạng thái phân cực, thương mại ưu tiên nội khố 3 khu vực kinh thế chính: Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á.

Nhóm cũng xác định vai trò trở thành “người kết nối” càng trở nên tiềm năng đối với Việt Nam trong bối cảnh thị trường châu Á trở nên năng động, hấp dẫn (Category definition) nhờ lợi thế vị trí: Việt Nam hấp dẫn nhờ vừa kết nối Trung Quốc vừa nắm lợi thế Biển Đông; Dù eo Malacca cạnh tranh khốc liệt nhưng hàng hoá vẫn phải đi qua Việt Nam để tiếp cận Đông Á.

Nhóm Đỏ Vàng Ngôi Sao

Nhóm Đỏ Vàng Ngôi Sao

Tuy nhiên, nhóm không né tránh các điểm nghẽn: mô hình FDI thâm dụng lao động, hạ tầng kết nối chưa đồng bộ, và nguồn nhân lực chưa đủ chất lượng vững vàng để đáp ứng cho các ngành đổi mới. Câu hỏi then chốt được đặt ra: liệu Việt Nam có đủ nội lực để thực sự trở thành một “connector” đáng tin?

Câu trả lời của Đỏ Vàng Ngôi Sao nằm ở căn tính dân tộc, được nhóm phân tích thành ba lớp:

  • Lớp nền tảng: Kiên cường và linh hoạt (Adaptive Resilience) – khả năng “làm được nhiều nhất với ít nhất”, đã được chứng minh qua tăng trưởng kinh tế và khả năng phục hồi sau khủng hoảng.
  • Lớp trung gian: Dung hòa sáng tạo (Creative Syncretism) – khả năng hấp thụ và bản địa hóa cái mới, từ chữ quốc ngữ đến văn hóa ẩm thực. Thể hiện qua bằng chứng văn hóa, rõ ràng nhất là chữ viết. Chữ quốc ngữ là dùng chữ Latinh dùng để viết ra tiếng An Nam. “Người Việt Nam là nước quốc gia duy nhất trong ngữ hệ Sinosphere bao gồm Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc sử dụng chữ quốc ngữ. Đó là một lợi thế vô cùng lớn khi mình kết nối với các quốc gia ở bên ngoài khu vực Châu Á.”
  • Lớp đỉnh: Thực tế chiến lược ở cấp thể chế – sẵn sàng đánh đổi lợi ích ngắn hạn để giữ ổn định dài hạn. Thấy rõ thông qua bằng chứng ngoại giao của chiến lược ngoại giao cây tre, giữ thái độ ôn hòa thay vì rơi vào áp lực chọn phe.

Nhóm cho rằng để những căn tính này phát huy trọn vẹn, Việt Nam cần bổ sung một phẩm chất mới: Relentless Execution – tính kiên quyết thực thi. Khi bốn yếu tố này hội tụ, Việt Nam có thể tạo ra một giá trị cảm xúc cốt lõi cho thế giới: sự đáng tin – Reliability.

Từ đó, nhóm đề xuất định vị “Reliable Strategic Connector” – một nút giao chiến lược đáng tin cậy của châu Á.

Hành trình hướng tới định vị “Reliable Strategic Connector” được chia thành ba giai đoạn: xây phần cứng hạ tầng, nâng cấp “phần mềm” từ gia công sang đồng sáng tạo, và cuối cùng là làm chủ cuộc chơi khi nội lực đủ mạnh.

Ở viễn cảnh 2045, Việt Nam không chọn phe, mà chọn kết nối; không chỉ trung chuyển, mà tích hợp sâu đến mức việc loại bỏ Việt Nam khỏi chuỗi cung ứng trở thành một tổn thất lớn. Đó cũng là lời hồi đáp của nhóm cho hình ảnh đứa trẻ Việt Nam bước ra thế giới: phía sau em là một quốc gia đáng tin cậy, tự cường và không thể thay thế.

Những câu hỏi mang tính gợi mở từ Ban giám khảo

Anh Dương Nguyên Vũ

Giáo sư Dương Nguyên Vũ đặt câu hỏi trực diện: “Tầm nhìn của tụi em về nút giao chiến lược cho tương lai năm 2045 là những cái hiện bây giờ Singapore đang làm. Họ “reliable” từ 20 năm nay, họ chính là “reliable connector” với thế giới rồi. Thì như vậy 20 năm nữa, cái Singularity (tính độc đáo nhất quán) nào của Việt Nam để chúng ta có thể giành được vị trí của Singapore hiện bây giờ?”

Nhóm trả lời bằng căn tính Creative Syncretism – sự dung hòa sáng tạo mang tính cảm xúc và nhân văn, thứ mà Singapore, theo nhóm, còn thiếu.

Giáo sư Dương Nguyên Vũ bổ sung và ủng hộ lập luận này, cho rằng khi sự dung hòa sáng tạo kết hợp với trí thông minh và khả năng đổi mới của người Việt, vai trò connector sẽ không chỉ là trung gian, mà tạo ra những giá trị gia tăng (added value) thực sự.

Cô Tôn Nữ Thị Ninh gợi ý nhóm khía cạnh để đào sâu hơn về mặt nhân lực: “Trên thế giới người ta nói về The Vietnamese tương đối nhiều. Người ta có nói tới The Singaporean không? Trong tiềm thức và nhận định của thế giới, ai cũng biết Singapore, nhưng ít khi người ta nói đến The Singaporean. Ai cũng biết Việt Nam và người ta cũng nói đến The Vietnamese.

Tôi muốn nêu lên một vấn đề: Khi chúng ta dùng từ “strategic” thì nó rộng, nó xa, nó có vision. Nhưng “connector” thì ngược lại - mình là trung gian. Và “trung gian” thường không mang lại giá trị added value rõ ràng, thì phải có “strategic” thì mới tạo ra value. Tôi muốn các bạn làm rõ hơn về added value các bạn đang muốn nói này, mà trong đó, có một nhân tố là nhân lực có trình độ chuyên môn cao (workforce & grey power), và cộng đồng diaspora - Chính phủ cũng đang rục rịch. Vậy thì, khi đóng góp chất xám và chuyên môn, kinh nghiệm của những nhân tố xuất sắc trong diaspora kết hợp cùng những nhân tố xuất sắc trong nước có thể sẽ tạo ra vai trò “connector” thật sự chiến lược strategic cho Việt Nam như thế nào….”

Anh Trần Sĩ Chương

Tiếp nối, ông Trần Sĩ Chương nhấn mạnh rằng: “Từ khóa “Reliable” chạm đến tôi vì đây là chuyện tôi đang làm cho cả thế giới thấy. Những yếu tố căn tính văn hoá về sự cởi mở, thân thiện, hoà đồng của người Việt như các em nói chỉ là chất xúc tác, để người ta quý mình thôi. Nhưng cái giá trị quyết định của một Reliable Strategic Connector có thể nằm ở năng lực mình biết kết nối ai với ai để tạo ra một giá trị cộng hưởng lớn nhất. Thì đó là một năng lực không hề đơn giản.”

Anh Hùng Võ bày tỏ thẳng thắn: “Đề xuất “Reliable Strategic Connector” của các bạn giống một định hình vai trò của nhóm quốc gia Category Archetype nhiều hơn (là định vị của một quốc gia), và phần lớn là được quyết định bởi vị thế địa chính trị chiến lược của Việt Nam. Anh hiểu tất cả những người Việt yêu nước như anh hay anh Chương, cô Ninh, đều cố gắng truyền bá advocate cho hình ảnh đáng tin cậy của Việt Nam ra thế giới. Tuy nhiên, đó mới là cái mình cần xây dựng và đó cũng chỉ mới là điều kiện cần. Những tính từ các em chọn như kiên cường, linh hoạt, dung hoà, sáng tạo, thực tế chiến lược,... anh thấy chưa kết nối và dẫn ra được từ khoá “Reliable”. Đó là những căn tính phù hợp cho một quốc gia do đặc điểm địa lý mà có khả năng kết nối thôi. Có sự cởi mở, sự tiếp thu, sự chuyển đổi. Anh không thấy logic trong việc dịch những căn tính đó sang reliable Anh nghĩ là nó có một cái lỗ hổng lớn ở chỗ đó…

“Định vị quốc gia là “Reliable Strategic Connector” là chưa đủ – vì đây vốn là điểm mạnh chiến lược mà Việt Nam vốn đã được thế giới nhìn nhận, có thể chúng ta không cần tới 20 năm để xây dựng nó. Và quan trọng hơn câu hỏi sau đó là “What’s next? What’s in it for Vietnam? Là một quốc gia chúng ta có rất nhiều nguồn lực đặc thù riêng , chúng ta có rất nhiều cái lợi thế đáng kể - thì cuối cùng chúng ta sử dụng cái ưu thế Reliable Strategic Connector đó vào để làm gì? Đó thì anh mới cho rằng mới thực sự là đáp án quốc gia đang cần.” - anh Hùng Võ bổ sung.

Ông Trần Sĩ Chương và chị Phạm Nhã Uyên chia sẻ: Hướng đi Reliable Strategic Connector của nhóm không sai, nhưng nhóm sẽ cần giải một bài toán sâu hơn - Đâu sẽ là điểm khác biệt (differentiator) của Việt Nam khi là một Connector? Đâu sẽ là cơ hội dài hạn cho Việt Nam?

chị Phạm Nhã Uyên

Làm thế nào để đưa điểm mạnh chiến lược này thành một hiện thực mới ở đó Việt Nam có thể thiết lập nên một sân chơi riêng?

Trước những lời nhận xét của ban giám khảo, nhóm Đỏ Vàng Ngôi Sao cũng bày tỏ mong muốn sử dụng định hướng “Reliable Strategic Connector” để có thể “gói đủ” những điểm mạnh của Việt Nam, đi từ căn tính, lợi thế địa chính trị, đường lối chính sách ngoại giao,... sao cho câu chuyện Việt Nam được hấp dẫn, thu hút và tạo được niềm tin với nước bạn.

NSND Bạch Tuyết: “Những việc các bạn làm không chỉ cho bản thân, mà chính là cho Tổ quốc.”

Trong phần chia sẻ giữa giờ, NSND – Tiến sĩ nghệ thuật Bạch Tuyết dành lời khen cho các thí sinh khi cho rằng những gì các bạn đang làm không chỉ có ý nghĩa với bản thân, mà còn mang giá trị rộng lớn hơn cho xã hội và đất nước. Cô nhấn mạnh: “Con người là gia đình, gia đình là làng xóm, làng xóm là Tổ quốc, Tổ quốc chính là thế giới.” Theo cô, mọi khát vọng lớn đều phải bắt đầu từ những điều nhỏ, thật và gốc rễ.

Cô cũng dành lời góp ý chân thành: “Các con nhất định phải rèn luyện, sửa những điểm yếu của mình trước, rồi mới đi làm chuyện lớn cho quốc gia. Mấy con phải học nhau. Nói, đứng diễn thuyết và quay và sửa.”

Cô Bạch Tuyết

Mượn câu chuyện lịch sử của Cải lương – ra đời với tinh thần “Cải cách hát ca theo tiến bộ, lương truyền tuồng tích sánh văn minh” – cô chỉ ra rằng bản sắc văn hóa Việt chưa bao giờ là bất biến. Suốt hơn một thế kỷ, Cải lương không ngừng thay đổi để thích nghi với xã hội, từ cấu trúc, âm nhạc đến hình thức biểu diễn, nhưng vẫn giữ được tinh thần cốt lõi của dân tộc.

Cô cũng nhắc đến chữ Nôm như một minh chứng quan trọng cho khả năng tự vệ văn hóa của người Việt: tiếp nhận ảnh hưởng bên ngoài nhưng chuyển hóa thành hệ giá trị riêng, đủ mạnh để bảo vệ bản sắc và chủ quyền tinh thần dân tộc.

Từ những dẫn chứng đó, cô gửi gắm một thông điệp rõ ràng tới thế hệ trẻ: thế giới ngày nay thay đổi nhanh hơn bao giờ hết, và chính người trẻ phải là lực lượng học hỏi không ngừng, nỗ lực nhiều hơn, giỏi sớm hơn thế hệ đi trước. Không phải để chạy đua, mà để đủ năng lực kế thừa, đổi mới và cống hiến cho đất nước trong một bối cảnh toàn cầu ngày càng khắc nghiệt.

Đội NAM và khát vọng “Asian Innovation Gateway”

Đội NAM đặt ra một câu hỏi thẳng thắn: vì sao Việt Nam được yêu mến nhưng chưa được ngưỡng mộ?

Câu trả lời được nhóm chỉ ra bằng một đối chiếu thẳng thắn. Trong khi Việt Nam có chỉ số Quen Thuộc Familiarity và Danh tiếng Reputation khá cao, thì Mức Độ Ảnh hưởng Influence lại thấp. Theo Đội NAM, khoảng trống này không nằm ở việc Việt Nam chưa được biết đến, mà nằm ở nội hàm năng lực sáng tạo và đổi mới, đặc biệt là R&D và Innovation.

Từ đó, nhóm đặt mục tiêu lớn: nếu muốn trở thành một sức mạnh nhóm giữa Middle Power tại châu Á vào năm 2045, Việt Nam cần vượt khỏi vai trò “công xưởng”, để trở thành một quốc gia được ngưỡng mộ vì năng lực kiến tạo và sáng tạo giá trị.

Vòng Chung kết Young Marketers mùa 14: Khi người trẻ bước vào đối thoại lớn về thương hiệu quốc gia (P1)

Đội NAM

Tương tự các nhóm khác, nhóm NAM cũng đưa ra những phân tích và nhận định về bối cảnh 2045:, châu Á được dự báo trở thành trung tâm kinh tế và tiêu dùng lớn nhất toàn cầu. Đồng thời, năng lực sản xuất phức tạp sẽ dịch chuyển từ Bắc bán cầu – nơi dân số già hóa – xuống Nam bán cầu, nơi đã có nền tảng sản xuất đủ mạnh để “gánh” những khâu giá trị cao hơn.

Nhóm xác định những lợi thế của Việt Nam trong trong dòng chảy đó: Việt Nam được nhóm nhìn nhận như một “cửa ngõ kép”: trở thành trung tâm Logistics cấp khu vực cũng như có thể trở thành một Translator (người phiên dịch) về thị hiếu của Châu Á, về nhu cầu của Châu Á cho thế giới.

Từ đó, Đội NAM đề xuất định vị: Vietnam – Asian Innovation Gateway (Cửa ngõ sáng tạo của châu Á).

Trọng tâm của định vị này nằm ở một sự dịch chuyển tư duy: từ Made in Vietnam sang Made with Vietnam – nơi Việt Nam không chỉ là nơi sản xuất, mà là đối tác cùng kiến tạo.

Về xây dựng thương hiệu quốc gia, Đội NAM tin rằng: Thương hiệu quốc gia phải đi kèm với năng lực quốc gia. Và năng lực quốc gia bắt rễ từ căn tính của người Việt. Câu trả lời của nhóm xoay quanh chữ “Việt” Vượt: Từ "Việt" bao gồm 2 bộ, nếu mà viết tự bao gồm 2 bộ là bộ "bước đi" và bộ "ý chí". Tức là một dân tộc bước đi bằng ý chí.

Từ nền văn minh lúa nước linh hoạt, văn hóa đũa đầy khéo léo, đến lịch sử tiếp biến, văn hoá cộng đồng “Chín bỏ làm mười” và dung hòa văn hóa, nhóm nhận định Vượt là một căn tính gốc rễ Việt Nam hình thành qua chiều dài văn hoá lịch sử.

Từ căn tính “Vượt”, Đội Nam xác định ba phẩm chất Việt Nam có thể rèn luyện để chuyển thành căn tính bệ phóng trong thế giới 2045.

Bền bỉ thích ứng trong thế giới đa cực và căng thẳng tài nguyên

Tiếp biến và chuyển hóa để tạo giá trị mới

Cởi mở, chuyển tham vọng cá nhân thành tham vọng quốc gia

Theo nhóm, đó cũng không phải là những phẩm chất thông thường, mà là những yếu tố tạo nên dấu ấn đương đại mang tinh thần Việt Nam: Việt Nam không giỏi làm từ 0 đến 8, nhưng lại rất giỏi trong việc làm từ 8 đến 10.

Nhóm muốn định hình câu chuyện về Việt Nam: Không còn là một quốc gia công xưởng “Made in Vietnam”, mà là một quốc gia có thể nâng tầm Châu Á thông qua sản xuất, công nghệ, và việc trở thành một đối tác cửa ngõ của châu Á. Từ tầm nhìn và tham vọng, nhóm xác định: giai đoạn đầu tiên trong 10 năm sẽ tập trung vào 3 nhóm ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hướng đến câu chuyện là tăng gia tăng giá trị thặng dư, xây dựng thương hiệu; Và 10 năm tiếp theo sẽ mở rộng ra những cái ngành công nghiệp văn hóa nhằm lan tỏa sức mạnh mềm.

Đội Nam đề xuất các phát kiến như Đại học kiến tạo quốc gia, thành phố di sản – công nghiệp văn hóa,Global-Viet Think Tank để kết nối trí thức Việt Nam trong và ngoài nước.

Thảo luận với Ban giám khảo: Gateway có đủ tạo ra giá trị “add value”?

Ban giám khảo liên tục đặt câu hỏi về bản chất của khái niệm “Gateway”. Cô Tôn Nữ Thị Ninh chỉ ra rằng Gateway có thể bị hiểu là vai trò thụ động – “facilitate” hỗ trợ hơn là kiến tạo. Nếu vậy, added value của Việt Nam nằm ở đâu, và vì sao thế giới chọn Việt Nam thay vì Malaysia? Cô Ninh nhấn mạnh nhóm có thể đào sâu thêm về khả năng Dung hoà (syncretism) để làm định vị của mình có chiều sâu.

“Các bạn sẽ nên là nhấn mạnh cái khả năng gọi là cái Syncretism - khả năng dung hoà và tiếp biến. Mà cái chiều kích này, cái cái ý này rất quan trọng. Khi mà chúng ta mở rộng ra toàn cầu mà thấy có đang có cái Clash of Cultures and Civilizations (Sự va chạm giữa các nền văn hóa và văn minh). Ông Samuel Huntington nói cách đây mấy chục năm rồi nhưng mà điều đó thực sự đang xảy ra bây giờ. Và những cái gì chúng ta thấy chính ở Bắc Mỹ, ở Châu Âu theo tôi sẽ không xảy ra ở Việt Nam. Đúng không? Nó chưa xảy ra có nghĩa chính đó là một cái một cái sức mạnh của lịch sử và văn hóa của Việt Nam mà chúng ta phải biết cái điều đó để chúng ta vận dụng được vào kinh tế và giao lưu quốc tế - Việt Nam ốc đảo của hòa bình và sự chào đón (an Oasis of Peace and Welcome)... Theo tôi đó chính là cách Việt Nam có thể có một vai trò “gateway” đặc biệt.”

Câu hỏi then chốt về “Innovation”: Việt Nam sáng tạo ở đâu?

Tiến sĩ Đinh Vũ Trang Ngân đặt ra hai câu hỏi: “Trong bài trình bày của các bạn có nhấn mạnh về phần 8 đến 10. Vì sao các bạn vẫn tin rằng là trong 20 năm tới, 20 năm rất dài và thế giới thay đổi rất là nhanh với công nghệ và rất nhiều tiềm năng. Thì Việt Nam vẫn không phải là giỏi ở trong lĩnh vực từ 0 đến 8? Và thứ hai là chữ Make so với cả chữ Create, làm và sáng tạo, mỗi chữ có ý nghĩa phù hợp với Việt Nam như thế nào?

Chị Trang Ngân

Chị Phạm Nhã Uyên cũng đặt câu hỏi về cơ sở tin tưởng “Reason to Believe” khi định vị Việt Nam là “Innovation” và liệu “innovation” có thể được truyền tải tốt hơn nếu chúng ta đặt ra thông điệp “Create with Việt Nam”?

Giáo sư Dương Nguyên Vũ gợi mở thêm rằng các bạn cần phải hiểu đúng là “Innovation”: “Bản chất Innovation là thay đổi những cái Status Quo để cho cuộc sống của những người khác tốt hơn, để cho xã hội tốt hơn. Muốn có innovation thì cần có ý tưởng (sáng kiến, phát minh), rồi thử nghiệm và đưa ra cuộc sống sử dụng. Invention là để phục vụ cho Innovation, chứ không phải tầng cao hơn của Invention.”

Phần phản biện của giám khảo thực tế mở ra một câu hỏi lớn hơn: không phải Việt Nam có sáng tạo hay không, mà là Việt Nam sẽ sáng tạo trên điều gì, sáng tạo và innovate theo cách nào để có thể có được lợi thế trên toàn cầu trong 20 năm nữa? Các chỉ số sáng tạo được dẫn vào đều liên quan đến FDI, chứ chưa phải là các chỉ số nội hàm của Việt Nam, như anh Hùng Võ nhắc nhở.

(còn tiếp)

Xem phần 2 tại đây.