Quyển sách tôi yêu: “Tuổi thơ dữ dội” – Nơi tuổi xanh hóa thành bất tử

“Tiễn con đi với đầy đủ hình hài
Ngày trở về con đã hóa thành đất nước…”
Chiến tranh vẫn luôn là đề tài khiến cho các ngòi bút trẻ phải e ngại. Họ dè chừng không phải vì muốn lãng quên, mà vì chưa từng dấn thân vào nỗi đau dân tộc. Ở văn chương không tồn tại sự cẩu thả, lịch sử càng không cho phép người ta cẩu thả. Chẳng phải ngẫu nhiên mà địa đàng văn học vẫn luôn lưu truyền một nhận định bất hủ của nhà văn Nam Cao: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Ta say đắm trong từng cuốn sách lịch sử mang hương vị hào hùng, phấn khởi của một dân tộc ngàn năm văn hiến. Máu chảy trên từng con chữ, ấy không chỉ là tâm thức thi nhân, mà còn là thứ huyết mạch chảy trôi trong linh hồn người Việt.
Ngày ấy, chiến tranh ngự trị trong lòng tôi là sự tự hào, vui sướng của những chiến thắng đầy vẻ vang, quyết liệt. Khi trưởng thành, tôi chợt nhìn thấy – đằng sau những tràng cười – một người mẹ ôm chầm di ảnh con mình bật khóc, một người vợ giấu đi đôi mắt đỏ hoe khi nghe đứa bé đang ở trong lòng ngây thơ hỏi “Thắng rồi, sao ba vẫn chưa trở về vậy mẹ?”. Và chiến tranh, còn là tiếng xung phong của toán con nít chỉ vừa 14, 15 tuổi. Sinh ra giữa thời loạn lạc, Phùng Quán hiểu rõ thế nào là nỗi đau trước cảnh nước mất nhà tan, tiếng súng vang giữa trời, những bước chân hòa bình in dấu các cậu bé trinh sát. Có lẽ chính cảm xúc gợn dâng trong lòng liên tục khiến “Tuổi thơ dữ dội” ra đời và trở thành cuốn sách đặc sắc trong địa đàng văn học.
Tựa như thước phim tua ngược về những năm 1945-1946, “Tuổi thơ dữ dội” đưa tôi về ngày tháng bi thương, oái oăm của một dân tộc ngàn năm văn hiến. Khi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh, rẻ mạt, là lúc họ phải đứng lên đấu tranh đoạt lấy tự do vốn có. Cách mà Phùng Quán trích dẫn lời của Cao Bá Quát “Trừ giặc, ba tuổi vẫn còn hiềm là muộn!” như một lời nhấn mạnh về lòng tự tôn của một dân tộc ngoan cường trước kẻ địch. Rằng chiến tranh không chỉ là sa trường dành cho đàn ông, phụ nữ, mà còn là trận địa của những đứa trẻ “hỉ mũi chưa sạch” với lý tưởng cao đẹp.
1. Vệ Quốc Đoàn – Một thời máu đỏ tuổi xanh
Tôi bắt gặp em Mừng – con mẹ Niệm bán bún bò ở chợ Bao Vinh. Em hiện lên với hình ảnh trẻ tuổi gan dạ. Giữa màn đêm đen kịt, quân địch tứ phía, ấy vậy mà Mừng vẫn kiên định bước tiếp, thành công dẫn dắt quân ta tiếp cận mục tiêu.
Tôi bắt gặp Quỳnh – cậu ấm nhà phó tổng trấn Trung kỳ , dù lớn lên trong gia đình giàu có, thế nhưng em vẫn quyết định bỏ nhà theo Vệ Quốc Đoàn, thậm chí em ghen ghét việc gia đình theo Mỹ, điều ấy khiến Quỳnh trở nên tự ti hơn bao giờ hết. Với tài năng âm nhạc vốn có, Quỳnh cổ vũ tinh thần đấu tranh bằng chính âm nhạc chảy trôi bên trong đứa trẻ có trái tim yêu nước nồng nàn, sâu đậm.
Tôi bắt gặp Vịnh – sưa kỷ luật, nghiêm túc, ngoan cường. Có lẽ vì tuổi thơ không trọn vẹn, em trở nên cứng cáp sau khi va vấp với cuộc sống. Ngày Huế đổ máu, em lân la đến nơi các anh trinh sát trổ tài lau, lắp súng, thế là được nhận vào trinh sát đoàn.
Tôi bắt gặp Lượm, một cậu bé mưu trí, khôn khéo. Nhà em vốn theo cách mạng, nên Lượm có đầy đủ tính cách của một chiến sĩ Việt Minh. Vì bản tính gan dạ, em được cử đi bám địch cùng với anh Đồng râu, Kim điệu và Tư dát. Một công việc “sống trong lòng địch” khó nhằn ngay cả các anh lớn còn phải e dè, ấy vậy mà em lại chẳng hề sợ hãi, vẫn luôn ngẩn cao đầu tự hào, “Cả nhà tau Việt Minh một mạch”.
Tôi còn bắt gặp Tư dát, Hòa, Vệ, Bồng, các em trinh sát nhỏ tuổi gánh vác trên vai độc lập của một đất nước. Trung đoàn Trần Cao Vân và toán con nít Vệ Quốc Đoàn tưởng chừng chẳng có gì ăn khớp. Thế nhưng mỗi em một vẻ lại là những mảnh ghép không thể thiếu của một bức tranh tình đồng đội, tình yêu quê hương đất nước mà Phùng Quán cất công gầy dựng lên.
2. Những cái chết hóa bất tử
Tôi không nhớ bản thân đã bật khóc bao nhiêu lâu trước sự ra đi của Vịnh-sưa. Cách em gan trường trước hiểm nguy lúc nằm gọn trong lòng địch khiến mắt tôi cay xè. Mặc cho “mùi thối khắm đến lợm mửa”, cảm xúc chợt yếu đuối khi nhớ đến tiểu đội, nhưng lí trí của Vịnh không cho phép em bỏ cuộc. Em nhanh chóng vực dậy tinh thần bởi câu nói của tổ trưởng: “Bỏ bạn lúc lâm nạn là điều xấu xa tồi tệ nhất đối với người chiến sĩ”. Chốc lại khiến tôi ngạt thở, điều mà đến cả người lớn vẫn cảm thấy khó khăn, vậy mà Vịnh lại khiến cho người đời phải há hốc ngạc nhiên bởi cách trân trọng đồng đội, tôn trọng lý tưởng của chính em.
Đúng với câu hát “Ra đi thà chết không lui”. Cái chết của em huy hoàng giữa biển bom lửa đạn, thế nhưng em lại đứng như Từ Hải trên chính chiến trận của mình, chết khi đứng trên đầu địch. Một cái chết vĩ đại hiện lên khiến tôi cảm thấy uất nghẹn cho chiến sĩ nhỏ bé mang trái tim quả cảm. Ký ức của tôi chỉ còn lại giây phút nghẹn ngào của Vịnh khi đứng trước thành phố nơi em thuộc về, nơi mà em sẽ ngã xuống, máu hòa vào đất mẹ để ôm trọn non sông Tổ Quốc, “Chao ôi! Huế mình đẹp biết mấy!”.
Sau Vịnh-sưa, cái chết ngang tàn của Mừng khiến tôi vô cùng ám ảnh: oan ức, tổn thương em có đủ. Tôi vừa thương lại vừa giận em, tuy cứng rắn trên sa trường là vậy, nhưng suy cho cùng Mừng vẫn chỉ là một cậu nhóc ngây thơ, hồn nhiên với lòng hiếu thảo – gia nhập Vệ Quốc Đoàn để tìm thuốc trị bệnh cho mẹ. Nhưng hồn nhiên quá lại thành tội, em bị người ta lợi dụng, bôi nhọ danh dự biến em thành Việt gian – cái danh mà em vô cùng căm phẫn.
Cuộc đời Mừng bi thương kể không xiết, đến những trang cuối cùng, cái hạnh phúc mà tôi mong cầu cho em mãi mãi không thể trở thành hiện thực. Lời trăn trối cuối cùng em dành cho đội trưởng chẳng phải là lời cầu cứu, mà lại chính là lời cầu xin em dùng cả mạng sống đổi lấy, “Anh đừng nghi em là Việt gian nữa anh hí!”. Tiếng bom át tiếng lòng bé nhỏ, em về với mẹ, về với Tổ Quốc. “Riêng em Mừng, trung đoàn trưởng cho đưa thi hài em chôn bên cạnh mẹ em dưới bóng cây vả rừng cổ thụ”. Và ngọn núi ấy đã mang tên: Núi-Mẹ-Con-Em-Mừng.
“Năm 20 của thế kỷ 20
Tôi sinh ra. Nhưng chưa được làm người.”
(“Một nhành xuân” – Tố Hữu)
Với nhiều người, “cả một đời” có nghĩa là bốn mươi, năm mươi, bảy mươi thậm chí một trăm tuổi. Nhưng với các chiến sĩ trinh sát “cả một đời” chỉ có mười ba, mười lăm tuổi mà thôi. Người ta thắc mắc con nít làm sao đối diện với quân thù một cách ngông cuồng đến như vậy? Đó là lý tưởng, niềm tin hòa bình sẽ đến vào một mai không xa. Có lẽ các em đã chiến đấu vì dòng máu đỏ vẫn chảy trôi trong tim, vì các em chính là “toán con nít” gánh vác Tổ Quốc đi đến hòa bình. Các em vẫn sống, sống trong lòng người đời, trong lòng nhân dân, hóa thành đất mẹ Tổ Quốc.
Chiến tranh đã đi qua, tôi nghiền ngẫm lại lịch sử qua trang sách, Từng giọng văn của Phùng Quán như hoá thanh âm truyền vào tai tôi một cách mãnh liệt, khiến con tim được chôn chặt bên lồng ngực trái bồi hồi thao thức. “Để cho đất nước yên vui từ đó, để cho đỏ thắm màu cờ tự do” (Viết tiếp câu chuyện hoà bình), đã từng có một Vệ Quốc Đoàn con nít phất cờ với câu tuyên thệ “Thà chết không lui!”. Chúng ta không thể cưỡng cầu một hạnh phúc, chúng ta có quyền được hạnh phúc dưới ánh bình minh khải hoàn. Phùng Quán không tái hiện chiến tranh để gợi lại đau thương cho dân tộc, mà để nhắc cho ta nhớ: “Chúng ta được sống là vì ai đó đã chấp nhận bước vào cái chết mà không một lần ngoảnh lại”.
“Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi
Dù có gian nguy nhưng lòng không nề
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi ra đi thà chết chớ lui…”