Quyển sách tôi yêu: “Sài Gòn bao thương” – Nhật ký tập thể đầy nghĩa tình trong tâm dịch COVID-19

Quyển sách tôi yêu: “Sài Gòn bao thương” – Nhật ký tập thể đầy nghĩa tình trong tâm dịch COVID-19

Nhắc đến Sài Gòn, người ta thường nghĩ đến một thành phố sôi động và nhộn nhịp. Nhưng có ai biết để nó được như ngày hôm nay, Sài Gòn đã trải qua điều gì. Và những ký ức tưởng chừng đã lùi xa, nhưng chỉ cần một cuốn sách, tất cả lại ùa về. Đó là đại dịch COVID-19 kinh hoàng năm 2021.

Tôi cứ ngỡ mọi thứ đã tan biến và không bao giờ trở lại nữa, cho đến một ngày tôi tìm đến “Sài Gòn bao thương” của tác giả Vũ Kim Hạnh, ký ức về những ngày đại dịch COVID-19 như hiện ra trước mắt với những gì vẹn nguyên nhất.

“Sài Gòn bao thương” là những mảnh ghép đa sắc màu mà tác giả đã dày công ghi chép, tìm tòi và khám phá, dựng nên bức tranh đầy đau đớn nhưng cũng đầy nghĩa tình của Sài Gòn trong những ngày dịch bệnh.

Với hơn 500 trang sách với vô vàn câu chuyện, nhà báo Vũ Kim Hạnh đã lựa chọn và sắp xếp theo gồm 3 chương chính: “Sài Gòn bi thương” với một hiện thực nghiệt ngã, “Sài Gòn bao thương” với đầy ắp tình thương của cộng đồng và “Những nạn nhân cuối cùng” với những đau thương còn sót lại. Lật giở từng trang sách, tôi có cảm giác như bước chân lên một chuyến tàu, để quay ngược lại thời gian, tận mắt chứng kiến những gì đã xảy ra vào những năm tháng đại dịch đó.

Quyển sách tôi yêu: “Sài Gòn bao thương” – Nhật ký tập thể đầy nghĩa tình trong tâm dịch COVID-19

Cuốn sách "Sài Gòn bao thương" của tác giả – nhà báo Vũ Kim Hạnh.

Ban đầu, cầm cuốn sách trên tay, tôi cứ suy nghĩ mãi về tên của cuốn sách. Bao gì mà là “bao thương”. “Sài Gòn bao thương” nghĩa là gì? Ở Sài Gòn một khoảng thời gian, tôi cũng nghe chữ “bao” ấy nhiều hơn, vốn xuất phát từ những tiếng rao ngoài đường. Nào là cơm tấm bao ngon, sầu riêng bao ăn, đồ này bao đẹp... nghĩa là trọn vẹn và chắc chắn.

Sài Gòn cũng thế, cũng “bao thương” với mọi người, với những người con tứ xứ tìm tới đất làm ăn và với cả những người đã “phải lòng” nơi đây. Bao thương rồi lại bao dung, thậm chí là bao đồng, Sài Gòn vẫn lặng lẽ như thế, trọn vẹn mà nghĩa tình. Tác giả đã nhận ra điều đó và gửi gắm qua từng con chữ, từng câu chuyện với những dấu mốc đặc biệt.

Phần I

Mở đầu phần I, “Sài Gòn bi thương”, nhà báo Vũ Kim Hạnh đã hé mở về đại dịch COVID-19 khi nó mới bắt đầu xuất hiện. Bắt đầu từ lúc “phường đến giăng dây” đến những chỉ thị giản cách toàn xã hội, tác giả đã khái quát một cách chân thật về diễn biến và mức độ ảnh hưởng của đại dịch với thành phố Sài Gòn.

Từ mất việc nghèo đói đến những thông báo “ngăn sông cấm chợ”, đứt gãy cung cầu... đại dịch đã phức tạp hơn rất nhiều lần và đã chồng chất lên nhau. Ở phần này, tác giả Vũ Kim Hạnh đã trở thành một “phóng viên chiến trường”, xâm nhập vào hiện thực trần trụi bấy giờ, quan sát và viết về nó một cách tường tận.

Tác giả không chỉ khắc họa bi kịch của một cá nhân mà còn mở ra những bài toán đau đầu của tập thể và nhiều doanh nghiệp. Tôi cứ nghĩ phải chăng “Sài Gòn bi thương” còn mang ý nghĩa Sài Gòn đã thực sự bị thương? Khi dịch bệnh ngày càng diễn biến, nhiều người phải vội vã ra đi để rồi trở về nhà trong tro bụi.

Khi người ta lần lượt rủ nhau ra đi, chỉ còn nước mắt ở lại. Nỗi đau ấy còn in đậm trong sự chia ly với những nghệ sĩ như ca sĩ Phi Nhung, danh ca Lệ Thu, bác sĩ Lương Lễ Hoàng, và thầy giáo Trần Đĩnh Dũng... để thấy rằng, COVID không chừa một ai. Mất mát và chia ly. Tiếc nuối và đầy đau xót.

Phần II

Nhưng có lẽ, không vết thương nào là không lành, chỉ là ngắn hay dài. Và với Sài Gòn, nó cũng dần hồi sinh bằng một “Sài Gòn bao thương”. Ở phần thứ hai của cuốn sách, tác giả Vũ Kim Hạnh tập trung đi sâu vào những câu chuyện giàu tình nghĩa cùng những tình cảm ấm áp của người dân thành phố. Đó là chương trình Vòng Tay Việt tác giả đồng hành với lời cam kết “Chuyến xe Vòng Tay Việt nhất định sẽ lăn bánh tiếp...” là những phần quà khẩn cấp trao đến các khu phong tỏa, xóm trọ nghèo, con hẻm chật hẹp.

Đó còn là những bếp ăn thiện nguyện, nhà hàng Xích Lô phát 1.200 suất cơm mỗi ngày, chuỗi quán cơm Nụ Cười 2.000 đồng, siêu thị 0 đồng mọc lên khắp nơi.Tác giả còn cho thấy sự sáng tạo của “Sài Gòn bao thương” khi nơi đây tạo ra những ATM gạo, thực phẩm, ATM nhà trọ, ATM oxy hay đến cả ATM điện thoại.

Điều tôi nhớ nhất trong những ngày dịch bệnh này là những chuyến xe nghĩa tình, cứ nối đuôi nhau lăn bánh, đến với bà con ở những “điểm nóng”, thậm chí từ những tỉnh khác đổ về. Có chuyến xe do chính quyền, đoàn thể tổ chức, nhưng cũng có những chuyến xe được các nhóm thiện nguyện, bà con đồng hương hay thậm chí từng cá nhân góp công góp sức. Đó là minh chứng rõ nhất cho tình đoàn kết, nghĩa tình của đồng bào ta.

Giờ đây, không chỉ còn là “lá lành đùm lá rách” mà còn là cả “lá rách đùm lá nát”, miễn sao còn giúp đỡ được nhau là đã thấy mừng. Ngoài ra, ở phần này tác giả còn ghi chép lại những người tình nguyện, những mẩu hình người Sài Gòn tiêu biểu trong việc giúp đỡ, hỗ trợ lăn xả một cách nhiệt thành.

Phần III

“Những nạn nhân cuối cùng” khép lại cuốn sách bằng những ám ảnh hậu dịch. COVID dù đã đi qua, thành phố đã dần hồi phục nhưng có những vết thương loang vẫn chưa kịp lành với những vòng xoáy đầy ám ảnh và kinh hoàng. Tác giả đã đi, gặp gỡ và trò chuyện với những nạn nhân sau đại dịch, mà chủ yếu là về những đứa trẻ mồ côi.

Dường như mỗi đứa trẻ là một câu chuyện, hiểu chuyện đến đau lòng. Có đứa nhỏ tuổi mà đã mất mát quá nhiều, đến độ phải thốt lên: “Con hận COVID này ghê lắm”. Hay đến chuyện của Đặng Gia Hy với ba lần mồ côi hay Bảo Long với nỗi cô đơn cùng ba di ảnh đặt trên chiếc bàn thờ nhỏ.

Dù không được tận mắt chứng kiến, nhưng đọc từng con chữ mà tác giả viết ra cũng đủ làm tôi thẩn thờ mà dừng lại. Quả thật đại dịch đã để lại những dấu vết đầy đau buồn cùng những nỗi nhớ mênh mang. Chiến tranh giờ đây đâu chỉ là chiến trường mưa bom bão đạn mà còn là cuộc chiến với những khoảng trống.

Những ngôi nhà khuyết bóng người thân, những đứa trẻ chập chững lớn lên với ký ức mồ côi... Có những nỗi đau không thể đo đếm bằng con số tử vong hay ca nhiễm, mà hằn sâu trong ký ức của mỗi người. Và có lẽ, sẽ còn rất lâu nữa những vết thương ấy mới có thể lành lại.

Những hình ảnh minh họa cùng chú thích chi tiết, cho thấy rõ hơn nỗi đau trong đại dịch Covid.

Những hình ảnh minh họa cùng chú thích chi tiết, cho thấy rõ hơn nỗi đau trong đại dịch COVID-19.

Nhưng ở cuốn sách, nhà báo Vũ Kim Hạnh còn gửi gắm tâm tư khi “đừng để que diêm nào bị tắt lửa” với những đóm lửa hy vọng đang dần thắp lên. Tác giả có nhắc đến ngôi trường Hy Vọng (Hope) của Tập đoàn Công nghệ FPT khi đã trở thành nhà của hơn 300 trẻ mồ côi vì COVID. Vì thế, “Sài Gòn bao thương” không chỉ là những chuyện buồn, chuyện đau mà còn là chuyện của ngày mai, của những mầm xanh đang từng ngày vươn lên.

Như nhà văn Đoàn Minh Phượng tâm sự: “Điều lạ là càng buồn tôi càng thương yêu cuộc đời và tất cả những người trong đời mình. Không sao nói hết”. Có lẽ, người ta thương nhau cũng chính vì những nghĩa tình như thế.

“Sài Gòn bao thương” như một tư liệu lịch sử đầy quý giá thời đại dịch. Cuốn sách không chỉ đơn thuần là những dòng nhật ký, những câu chuyện ghi chép hay sưu tầm mà còn là những phân tích cùng những hình ảnh, số liệu một cách trực diện và khách quan. Từ đó, nhà báo Vũ Kim Hạnh cũng đã thẳng thắn đưa ra những quan điểm, sáng tạo đổi mới trong những câu chuyện thời đại dịch.

Tôi nghĩ, “Sài Gòn bao thương” không chỉ là cuốn sách chỉ dành cho người gắn bó với Sài Gòn mà còn cho cả những ai là người Việt và thương người Việt. Bởi đó không còn là câu chuyện của một cá nhân mà còn là một cuốn “nhật ký tập thể”. Nặng nề đó, nhưng cũng thiết tha đó. Nhớ để thấy những ngày khốc liệt qua và nhớ để thấy tình thương đã sưởi ấm cả cộng đồng.

Đọc “Sài Gòn bao thương”, tôi nhận ra rằng, dù thành phố này có thay da đổi thịt ra sao, những tòa nhà cao tầng mọc lên như thế nào, những con đường có mở rộng đến đâu thì cái gốc rễ của tình thương yêu vẫn còn đó. Và tôi tin, một ngày nào đó, không chỉ có “Sài Gòn bao thương” mà còn có cả “Việt Nam bao thương” về một đất nước chan chứa nghĩa tình, để gây nên “bao nhớ” cho những người con tình nghĩa nơi đây.