Quyển sách tôi yêu: Phía Tây không có gì lạ
CHIẾN ĐẤU NGOÀI MẶT TRẬN: BẢN ÁN HAY BẢN LĨNH?
Tên cuốn sách: Phía Tây không có gì lạ
Tác giả: Erich Maria Remarque
Đối với chúng ta - chứng nhân của hiện tại, thì lịch sử trong quá khứ chính là khoảng cách xa vời và là cụm từ hàm chứa cả một thế giới lạ lẫm nhất. Dù lịch sử thường xuyên được nhắc đến nhưng lại như những ngôi sao hôm lay lắt giữa trời mưa nặng hạt, lạc giữa biển không gian mà không một ai thực sự để ý. Thế nhưng, như Ray Bradbury đã viết trong cuốn sách “451°F”: “Hầu hết chúng ta không thể chạy đôn chạy đáo khắp nơi, nói chuyện mọi người, biết mọi thành phố trên thế giới, chúng ta không có thì giờ, tiền bạc hay không có nhiều bạn đến thế. Những thứ anh đang tìm, Montag ạ, là có ở thế giới này, nhưng cách duy nhất để kẻ bình thường có thể thấy được 99% các thứ ấy là ở trong sách”. Cùng với đôi cánh của ngôn từ, những cuốn sách sẽ đưa ta đến thế giới mà ta chưa từng nhìn thấy. Và, cuốn sách “Phía tây không có gì lạ” của Erich Maria Remarque sẽ giúp chúng ta bước vào những năm thế chiến I diễn ra ác liệt nhất tại nòng cốt của cuộc giao tranh - mặt trận Tây Đức, cùng sống trong một quá khứ của hàng vạn con người đằng sau những con chữ đầy ám ảnh.
Erich Maria Remarque (1898 - 1970) là nhà văn lừng danh nước Đức, được gọi là “thiên sứ ghi chép về chiến tranh”, các sáng tác của ông viết về những nhân vật bình dị với những câu chuyện chân thật và cảm động. Sáng tác “Phía Tây không có gì lạ” đã xướng tên ông thật chói chang trên bầu trời văn học thế giới. Tác phẩm được ra mắt lần đầu vào năm 1928 không lâu sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, lấy bối cảnh là bờ cõi nước Đức, địa trận phía Tây nước Đức những năm thế chiến thứ I bùng nổ mãnh liệt. Tác phẩm được viết như một dạng hồi ký của nhân vật “tôi” - Paul Bäumer vốn đang ngồi trên ghế nhà trường lại được chính các thầy cô cổ xúy tham gia mặt trận ở độ tuổi còn rất trẻ với bao niềm tin vào tương lai, vào các thầy cô giáo. Nhờ vậy, Paul và bạn học nuôi được niềm tin rằng được trở thành người lính ra mặt trận là niềm vinh dự, là để chứng tỏ niềm yêu nước và sự bản lĩnh của thanh niên đang ở độ tuổi son sắt đầy sức trẻ để tận hiến. Tuy vậy, điều chờ đợi họ nơi mặt trận chỉ còn chết chóc, bao đau thương, già cỗi.
Bìa sách cũng gây ấn tượng mạnh mẽ bởi thông điệp sâu sắc đằng sau đó. Có duy nhất một chiếc mũ cối xuất hiện trơ trọi, nhỏ bé giữa cả bìa sách. Một vật tĩnh lại được đặt giữa khoảng không trơn màu lạnh lẽo càng làm bật lên sự cô độc, nhỏ bé, chiêm bao, sự ngập ngừng, trầm mặc khi nhớ về và nhắc đến. Dường như sắc xanh của chiếc mũ càng được bổ trợ bởi sắc xanh đất của nền bìa sách. Sau khi đọc tác phẩm, nhìn lại sắc xanh trên bìa sách càng khiến độc giả day dứt bởi: Sắc xanh tượng trưng cho cả thanh xuân, tuổi trẻ và cả sắc xanh của chiến trường... Giữa những luồng khói đen kịt của bom đạn và màu nâu đỏ của lớp đất bị lật tung thì sắc xanh của chiến trường chính là bộ quân phục càng trở nên nổi bật, gắn với đó là những khát vọng được sống, là những khả ước của tuổi trẻ chưa kịp hoàn thành của những binh sĩ trẻ tuổi ngoài mặt trận. Chính trang bìa của cuốn sách đã ấn định, cô đọng, dự báo về nội dung ẩn sau những trang sách: Sau chiến tranh, điều còn lại chỉ là những đau thương gắn liền với chiến tranh.
Mọi chuyện khởi nguồn từ khi bản lĩnh được quy phạm: “... tình cảm dân tộc của người lính nằm ở chỗ anh ta đang có mặt ở mặt trận”. Chính những người lính trẻ khi đã kinh qua đủ gian khổ trên chiến trường cũng phải thốt lên rằng: “... cái lời đó chặn đứng mọi kiểu suy luận khác nhưng chỉ dừng ở đó thôi, mọi thứ khác anh ta đánh giá qua thực tiễn và theo cách nhìn nhận của anh ta.”. Sau những năm tháng chiến đấu, họ cũng phát hiện được có mặt ở mặt trận chỉ đẩy chiến tranh lên cao trào và chôn vùi đất nước họ.
Tham gia vào chiến tranh chính là bản án mà họ đã bị kết tội oan uổng. Trước câu hỏi của mẹ về cuộc sống nơi chiến trường, Paul đã chìm trong dòng suy tưởng :"Mẹ sẽ không hiểu được đâu và không bao giờ hiểu nổi. Mẹ cũng không bao giờ nên hiểu." đã khẳng định rõ ràng về sự khủng khiếp kinh hoàng, tàn khốc của chiến tranh. Mỗi giây phút đều là canh bạc của sự sống, sự sống bị đe dọa, chà đạp như đứng giữa một trò đùa khó phân biệt, đầy hư ảo. Những chiến hào không có dấu hiệu sự sống: chuột cắn chết mèo, căn hầm rung bần bật, đêm chỉ còn là sấm ran chớp giật, những trái phá hạng nặng giật phăng lũy chiến hào quất tơi tả tấm bê tông. Chung quanh là những xác chết không còn nguyên vẹn, “đôi bàn tay bị bắn rụng cùng với hai cánh tay đứt rời mắc lại trong đám dây thép gai”. Đối mặt với nó, họ nôn ọe, mặt tái nhợt, “như đang ngồi dưới huyệt mộ của chính mình, thân thể chỉ còn là một lớp da mỏng che đậy một cơn điên đang cố kìm nén vì sợ hãi.” Tất cả là quá sức chịu đựng với một người hôm trước còn được ngồi trên ghế nhà trường, non nớt, trong sáng, tinh khôi và được bao bọc bởi sự êm dịu của quê hương. Cảnh tượng ở đây dễ dàng đập tan ý chí của họ. Các chiến sĩ trẻ ấy đứng ở đây và chiến đấu vì đất nước của họ nhưng điều thật sự níu giữ sự sống của họ chính là những ký ức gắn liền với quê hương. Để rồi sự xuất hiện của con người với suy nghĩ cảm xúc đã hoàn toàn trở thành con người với bản năng hoang dã để sinh tồn: ngấu nghiến, bạo lực động vật, dần đánh mất nhân tính: thằng này phang thằng kia. Bằng cách đấy, những người lính trẻ cũng dần quen mặt với bom đạn đến khi phần cảm xúc bị chai sạn. “... trúng đạn hay sống sót đều do may rủi, chỉ chệch đi một phân thôi, viên đạn đã có thể găm vào người bất cứ lúc nào, vì là may rủi nên càng thản nhiên...”. Họ đã bị cự tuyệt quyền làm người, bị đối xử như vật thế thân, đỡ đạn cho các ông lớn. Ngay tại chính khu nhà thổ, nơi chăm sóc cho các thương binh, mạng sống chỉ đơn giản được chú ý đến bởi số lượng. Không ai quan tâm người chết hay bị thương là ai, chỉ cần còn mạng thì đều có thể tham chiến. Sự vô cảm của con người vượt ngưỡng khả năng chịu đựng khi Kat mất, vì quá đau thương nên Paul không thể tin chuyện đấy là sự thật thì gã y tá lại bỡn cợt và đòi cá cược rằng Kat đã chết trước lời phủ nhận đầy thống khổ của Paul.
Dưới con mắt của cánh báo chí, những người lính Đức bị cho là tàn ác, bạc nhược và hung tàn nhất thì những binh sĩ này chỉ mới ở độ tuổi đôi mươi và thực ngây thơ. Hôm trước, Paul cùng bạn còn đang đọc sách, chơi dương cầm. Hôm sau đã “bị đẩy” đến nơi tàn nhẫn, kinh khủng nhất đối mặt với biết bao hiểm nguy. Nhưng ẩn chứa đâu đó trong tâm hồn họ vẫn là những cậu bé với khao khát được trải nghiệm yêu đương, tận hưởng cái đẹp, cố gắng làm nhẹ đi cái chết bằng lời bông đùa. Nhưng thực chất chẳng ai không khỏi suy nghĩ đến cái chết, cố sức để không bị phát điên. Họ chính là điểm dựa tinh thần duy nhất của nhau. Khi Kat và Paul cùng bị thương ở chân nhưng có thể tiếp sức nhau chạy thục mạng đến hàng vạn dặm để thoát khỏi sự truy lùng của kẻ địch. Lúc lâm nguy thì tiếng gọi của đồng đội còn cao cả, nhiệm màu hơn cả tình mẫu tử. Có lẽ bởi những kẻ cùng bị thế giới này bỏ rơi mới có thể tìm thấy sự đồng điệu ở nhau và cứu vớt nhau.
Những người lính trẻ rất lương thiện. Dù đã bị vắt kiệt sức lực trên chiến trường nhưng họ vẫn cố gắng chỉ dẫn cho các tân binh những kinh nghiệm để không phải bỏ mạng ngu ngốc trên chiến trường. Nhân vật “tôi” - Paul, khi chứng kiến sự tàn độc của những người lính Đức tại trại giam các tù binh, anh cảm thấy bức xúc thay những tù binh Nga, cảm thấy ức trong lòng trước đôi mắt run rẩy, sợ hãi của những người nông dân ấy. Dường như đã có một cơn sóng dữ dội nổi lên trong lòng Paul và trực chờ đổ ập mọi thiên kiến của anh về việc bắt giữ họ là đúng đắn. Cao trào xảy đến trong một lần đi tuần, Paul đã bị lạc sang địa trận phía địch và phải nấp tạm vào một cái hố. Bất chợt, có người rơi vào cái hố ấy, Paul vì quá sợ hãi mà đã giết chết người đó. Khi Paul đối mặt với tên binh sĩ phía địch đã bị mình giết, anh đã bị sự tội lỗi cùng cực dày vò đến mức phát điên rồi tự vấn không biết mình đang chiến đấu vì điều gì. “Kẻ địch cũng là người khốn khổ, họ cũng ra trận vì bảo vệ tổ quốc của họ… vậy ai đúng ai sai…”. Thậm chí anh còn nghĩ việc chuộc lại lỗi lầm với gia đình của chiến sĩ mình đã giết hại là lẽ sống duy nhất của mình khi thoát khỏi nơi đây. Họ chiến đấu không bằng vui thú ném bom đạn, gây chiến mà hoàn toàn bằng bản năng. Sau những chuỗi ngày bị nhốt, bao vây trong hầm trú ẩn, khi thoát được ra, tất cả mọi người đều ồ ạt mà nã đạn, ném bom. Sự dã man dâng trào đến mức: “Nếu kẻ đứng trước mặt tôi là bố của tôi thì tôi cũng không do dự mà ném lựu đạn vào ông ấy.” Bởi quăng lựu đạn không phải để cố ý giết người mà để tự cứu chính mình và để trả thù. Bởi đó là sự thèm khát được sống, để tự vệ và sinh tồn.
Những cậu bé ấy cũng là nạn nhân của chiến tranh. Khi có lần được về phép, mọi người đều chúc mừng Paul được quay về với gia đình thân yêu nhưng “tôi” khi đối mặt với người thân yêu nhất chỉ còn sự xa cách không tưởng. Nỗi đau là thứ cô lập được một người bởi không ai có thể hiểu được sự dày xéo của chúng ngoài chính người đó. Bởi vậy, không ai có thể hiểu bao đau thương mà cậu ấy phải chịu đựng. Giả sử có người trả lại cái thời thơ ấu đó thì chính những binh sĩ ấy cũng không biết phải bắt đầu ra sao với nó như cảm xúc trước đồng đội đã chết: “Đây là đường nét, gương mặt, ký ức khi cậu ấy còn sống nhưng cậu ấy mãi mãi chẳng sống lại.” Vì những người thân không thể đồng cảm với họ nên thế hệ những người lính trẻ đã bị tách riêng ra. Họ đã bị tước đi giai đoạn thành hình màu sắc của chính mình, phần cấu thành họ bây giờ chỉ là bom đạn và đau thương… Họ chỉ còn là những kẻ bị bỏ xó ngoài thế giới thực, quá khứ không thể quay lại, vất vưởng giữa hiện tại bế tắc và quá khứ, tương lai vô vọng.
Khung cảnh chiến tranh của “Phía Tây không có gì lạ” gợi người đọc đến cảnh tượng được miêu tả trong “451°F”: “nền văn minh của chúng ta đang tự ném mình cho vỡ thành từng mảnh” khi mà vũ khí - những phát minh của con người lại phục vụ cho việc giết chết con người. Tất cả các nước tham chiến đều là những nước phát triển mạnh mẽ nhưng sau cuộc chiến tranh chỉ còn hoang tàn đổ nát, kiệt quệ. Con người khi ấy đang là homo sapiens, là những con người tinh khôn tự tay phát triển nền văn minh đến độ rực rỡ lại vì chiến tranh lại trở về với bản tính hoang dại, chém giết lẫn nhau, tự tay phá bỏ tất cả thành tựu ấy. Người đọc phải giật mình nhận ra rằng cảnh tượng chiến đấu nơi chiến trường ấy không có sự oai hùng, mạnh mẽ mà chỉ là nỗi đau bị tra tấn và bản chất thật sự của chiến tranh. Sau cùng, những binh sĩ trực tiếp đứng trên mặt trận đều không được hưởng lợi từ chiến thắng. Bởi những người đứng đầu nhà nước ra sức chạy đua để giành giật lợi ích đất đai và quyền lực mà không cân nhắc đến cuộc sống yên bình cho người dân. Khi ấy những người nông dân nghèo khổ chỉ là công cụ giúp họ giành được mục đích đó. Đó là cuộc chiến tranh phi nghĩa với hai luồng sắc thái là sự cùng cực của giai cấp nghèo khó và sự tàn ác của giới có chức quyền.
Có lẽ chính bởi những trải nghiệm thực tế trong cuộc đời mà Remarque có thể viết nên một hiện thực vô cùng tàn khốc, tả thực trần trụi, vạch trần tội ác đang ẩn sâu trong những cuộc chiến tranh phi nghĩa, với giọng điệu đa thanh lúc cất lên tiếng nói trong trẻo của tâm hồn những người lính trẻ lúc vang lên thanh âm day dứt, thổn thức, đầy bi ai, đau thương của tâm hồn trải qua bao nỗi đau bị chiến tranh cào xé
“Phía Tây không có gì lạ” gợi nhắc đến cuốn sách cùng đề tài “Tuổi thơ dữ dội” nhưng lại mang màu sắc khác biệt. Cùng là thế hệ các binh sĩ trẻ mới còn đang ở độ tuổi ngồi ghế nhà trường đã phải gánh trọng trách cầm súng chiến đấu. Họ đều mang trong mình trách nhiệm chiến sĩ nhưng với Vệ Quốc Đoàn trong “Tuổi thơ dữ dội” thì họ may mắn hơn bởi họ được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu vì sứ mệnh, lý tưởng của tổ quốc là độc lập tự do, gắn với nhân quyền và sự hạnh phúc của nhân dân. Còn với những chiến sĩ Đức trẻ thì họ chiến đấu mà không hay rõ để phục vụ cho điều gì, đơn thuần chiến đấu chỉ để giành giật lại sự sống. Bởi họ bị mê hoặc vì lời kêu gọi đứng lên là yêu tổ quốc. Họ là những con tốt dưới tay của đám hám quyền cao chức trọng. Cuộc đấu tranh trong “Tuổi thơ dữ dội” là cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta đối lập với cuộc chiến tranh phi nghĩa trong “Phía Tây không có gì lạ”.
Tác phẩm là lời khát vọng tha thiết được lên tiếng vì hoà bình, một niềm khắc khoải cho ngàn đời vì định nghĩa thật sự của chiến tranh và hòa bình. Tình yêu thương, sự đồng cảm giữa người với người có khả năng cưu mang những tâm hồn đang mục rữa. Cuốn sách giúp độc giả càng thêm trân quý thế giới yên bình mà mình được sống, càng thêm yêu dáng vẻ rạng rỡ, êm dịu tại nơi đây, càng thêm trân trọng thành tựu mà thế hệ trước phải đánh đổi bằng xương máu và cả hoài bão để có được. Lịch sử không chỉ là bài học mà còn là cả một thế giới đồ sộ của người đi trước để lại cho chúng ta