Quyển sách tôi yêu: Factory Girls

“Khi Thâm Quyến đặt mục tiêu vào công nghệ tiên tiến và đổi mới thì Đông Quản nhận lấy những gì có thể, nghĩa là thu nhận các nhà máy kỹ thuật lạc hậu từ Hồng Kông và Đài Loan sản xuất quần áo, đồ chơi và giày dép” – Leslie T. Chang

Đây là cuốn sách mà M đọc vì giảng viên môn “Quản trị nhân lực” cứ nhắc mãi, thi thoảng lại lấy ra vài dẫn chứng để cho tụi trẻ đang ngáp ngắn ngáp dài dưới kia tỉnh mộng mà tu chí học hành. Tức cái mình, nói đi nói lại nghe hoài cũng chán nên M phải kiếm bản điện tử (do phát hành lâu rồi nên không còn kiếm được bản giấy) đọc để còn âm mưu “phản damage” lại những lập luận đó. Chưa đầy một tuần đọc ròng rã, cuối cùng M cũng cày ải xong hơn 300 trang, vừa kịp lúc, báo chí đăng tin về mức lương 9 – 14 triệu/tháng cho công nhân làm việc tại nhà máy sản xuất AirPods tại Việt Nam.

Thông tin đó cũng sẽ chẳng đáng quan tâm lắm nếu không đặt trong bối cảnh dòng vốn dịch chuyển từ Trung Quốc về các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, do các yếu tố địa chính trị, dịch bệnh,... Một cơ hội mà theo nhiều chuyên gia thì nếu đất nước nắm bắt tốt sẽ mở ra một kỳ tích phát triển kinh tế cũng như cải thiện chất lượng đời sống người dân. Tuy nhiên, đó chỉ là lớp phấn hồng mà các báo cáo triển vọng kinh tế dậm lên trên khuôn mặt lỗ rỗ những mụn mủ của nước sở tại, trước đây là với Trung Quốc và giờ là Việt Nam. Bôi lớp phấn ấy đi, chúng ta mới có dịp nhìn rõ chân dung của sự đầu tư ấy, vẫn có những mảng màu sáng, nhưng lấm tấm đây đó vết tàn nhang, sẹo lồi, mụn mủ dần thành hình.

Tác giả quyển sách “Factory Girls” (Tựa tiếng Việt là “Gái công xưởng”) là người gốc Trung Quốc theo gia đình di cư và lớn lên ở Mỹ sau những biến động chính trị tại Trung Quốc dưới thời Mao. Cô đúng là mẫu người mà các nhà xã hội học, giống như ngành học của M, sẽ phấn đấu để... không trở thành. Ngòi bút mài giũa sau nhiều năm làm việc cho Wall Street Journal, sắc bén để vẽ nên nét phác họa của các lao động nữ di cư trong các công xưởng Trung Quốc. Nhưng có vẻ lại quá cùn mòn khi cố chọc thủng bức màn của truyền thống phủ lên cuộc sống ở đất nước triệu dân. Điều duy nhất khiến cô tách bạch so với đám phóng viên nước ngoài thường trú tại đây là dòng máu mang gốc gác Trung Quốc cùng khả năng ngôn ngữ đủ để làm quen, làm thân và làm tin những cô gái tác giả có dịp tiếp xúc. Nữ tác giả, dù có khi đưa những nhận định và cách đánh giá của phương Tây vào những cuộc trò chuyện, nhưng vẫn cố gắng mô tả lại điều mà cô đã trải nghiệm tại “công xưởng của thế giới”. Tại nơi đó, con người và máy móc dắt dìu nhau trong điệu vũ bất tận của sản xuất, đáp ứng nhu cầu của phần thế giới mà tác giả vừa bước ra.

“Bao nhiêu phần trăm người ở Sài Gòn là dân Sài Gòn?” – đây là câu hỏi luôn ám ảnh M mỗi khi có dịp ngồi trên lầu cao nhìn xuống dòng người tan tầm. M không biết chính xác, mà cũng chả cần biết chính xác. Vì cứ sống ở Sài Gòn, lâu dần người ta lây cái tính hào sảng, bỗ bã. Tự nhiên rồi thành người Sài Gòn hồi nào hổng hay. Còn tác giả quyển sách, đến Đông Quản, một thủ phủ của những nhà máy lớn nhỏ do các tập đoàn hàng đầu thế giới dựng nên nhằm tận dụng lực lượng lao động dồi dào của Trung Quốc. Cũng như Sài Gòn, Đông Quản là nơi người ta tìm kiếm cơ hội, tự thân hoặc trên trời rơi xuống. Kiểu nào cũng được, hằng hà sa số, nhưng quan trọng là chỉ cần biết nắm lấy, những cơ hội đó sẽ giúp họ không phải trở về quê, lấy chồng và sinh con với một người đàn ông cùng làng hoặc gần làng như thế hệ trước. Vì vậy, không lạ khi vài tháng sống ở Đông Quản nhưng tác giả lại không bắt gặp người địa phương nào. Nhan nhản trên phố chỉ là dân nhập cư từ mọi miền của đất nước tỉ dân, những kẻ mơ mộng chân chạm đất.

Có người lên kế hoạch đào tẩu khỏi thế giới nghèo đói bằng cách tự rèn luyện bản thân: đọc tiểu thuyết, luyện viết chữ, học nói (tiếng Quảng Đông – ngôn ngữ của giới chủ nhà máy). Những kế hoạch mà chỉ nhìn vào thôi đã thấy cây kim động lực vọt lên mức cực đại, dù quá trình thực hiện đồng nghĩa phải đánh đổi thời gian nghỉ ngơi, về thăm nhà, giao lưu bạn bè,... Với những cô gái tại công xưởng, bước chân vào thế giới văn phòng là mục tiêu, cũng là bước đầu tiên để leo lên các tầng bậc xã hội cao hơn, làm quen với những người, có những cơ hội mà nếu đối diện với máy móc tại công xưởng và các cô gái cùng băng chuyền sản xuất thì hiếm bao giờ có được.

Lẽ tất nhiên, có cung thì ắt có cầu. Những trung tâm tiếng Anh, tin học, kỹ năng văn phòng mọc lên như nấm để đáp ứng nhu cầu “chuẩn bị đổi đời” của công nhân. Phương pháp học tiếng Anh theo kiểu “dây chuyền sản xuất” với 16-18 tiếng/ngày, những giảng viên đứng lớp với trình độ như thời còn “bình dân học vụ” hay giảng viên “bản xứ” châu Phi,... Tất cả tạo thành một nền công nghiệp khổng lồ để lừa vài trăm nhân dân tệ của những người Trung Quốc giàu tham vọng nhưng kém hiểu biết. Ở đó, có một kỹ năng mà các cô gái ở công xưởng học được miễn phí nhưng lại áp dụng thuần thục mọi nơi mọi lúc trên nấc thang sự nghiệp: NÓI DỐI. Kỹ năng cần thiết đến độ, theo đúc kết của một giáo viên dạy tại một trung tâm kỹ năng ngoài giờ cho công nhân, “những người quá thành thật sẽ bị loại ra khỏi cái xã hội này”.

Cũng có người chớp lấy được thời cơ để giàu lên nhanh chóng nhờ khả năng ăn nói và thuyết phục người khác tham gia “truyền tiêu” (hay Việt Nam gọi là đa cấp). Dĩ nhiên, sự giàu có đó không kéo dài lâu, cô gái tham gia “truyền tiêu” kia nhanh chóng rơi trở lại cuộc sống cũ khi nhà nước ra lệnh chấm dứt hoạt động của các công ty dạng này. Điều chua chát mà tác giả nhận ra là lần đầu tiên, cánh tay dài của chính phủ chạm đến cuộc đời của cô gái làm “truyền tiêu”. Nhưng không phải để giúp cô thoát nghèo mà để tước đi phương tiện thoát nghèo (dù là phi pháp) đó.

Đây đó quyển sách vẫn đan xen những giá trị truyền thống của đất nước Trung Hoa chưa bị lấn át bởi tiếng máy móc phát ra từ công xưởng. Đây đó vẫn có những con người thành công nhờ nỗ lực tự thân. Nhưng điều người làm chính sách và mỗi người dân dễ dàng tìm thấy điểm chung khi đọc tác phẩm này chính là những việc có thể chuẩn bị để đón đầu và bước lên chuyến tàu cơ hội thay vì bị bỏ lại trên sân ga, hay tệ hơn, đi lậu vé, để đến thành công.