Quyển sách tôi yêu: Bản chất của người - Nơi lương tâm tự vấn trước bạo lực và tội ác

Quyển sách tôi yêu: Bản chất của người - Nơi lương tâm tự vấn trước bạo lực và tội ác

“Tôi bắt đầu tin văn chương cũng có lửa, làm tan chảy những bức tường thép mà mỗi người tự dựng lên; văn chương cũng là băng, gắn kết tất cả những người trên ốc đảo thành một khối; văn chương cũng là nước, dịu dàng mà mãnh liệt vượt qua những rào cản văn hoá, ngôn ngữ…” ( Nguyễn Ngọc Tư). Quả thật, xuất phát từ hiện thực cuộc sống, nên văn chương, cũng vì thế luôn lách sâu ngòi bút của mình vào những điều nhỏ nhất, những góc khuất sâu thẳm nhất, những kiếp người tăm tối nhất. Đã có biết bao tác phẩm, vượt qua khỏi vỏ bọc hào nhoáng của cuộc đời, đi sâu khai thác thế giới nội tâm phức tạp, vừa để bóc trần sự thật, vừa để những tâm hồn, tưởng chừng đã chai sạn trước hiện thực cuộc sống, được một lần lên tiếng. Và cuốn sách “Bản chất của người” của nhà văn Han Kang, chính là một trong những cuốn sách khai thác sâu sắc những điều ấy. Qua đó, nhà văn vừa phơi bày hiện thực lịch sử khắc nghiệt của phong trào dân chủ Gwangju, vừa đi sâu vào số phận le lói của những con người đã hi sinh, hay bước ra từ phong trào ấy.

Cuốn sách “Bản chất của người” gồm sáu chương, với góc nhìn đa chiều từ các nhân vật, từ đó nêu lên sự kiện lịch sử, tái hiện lại quá khứ và những dư âm còn ảnh hưởng đến hiện tại, thậm chí cả trong tương lai. Một chi tiết nổi bật sâu sắc, tuy không được tác giả gợi lên qua câu chữ trong quyển sách, nhưng lại hệt như “bản án” về lương tâm, nhân tính của con người, đó là sự đối lập giữa thiện và ác trong “bản chất”. Có những người, dù cận kề cái chết, vẫn giữ cho mình bản chất thiện lương nhất. Vậy mà lại có những người, tuy là thế lực đại diện cho phe lương thiện, chính nghĩa, lại là những người vô đạo đức, man rợ, hung bạo, chà đạp lên phẩm giá, mạng sống con người.

Chương đầu tiên của cuốn sách mang tên “Con chim non”, với nhân vật chính Dong Ho – người đang đi tìm xác người bạn của mình. Chương một mở ra với không gian tĩnh mịch, u tối khi trời sắp chuyển mưa. Quang cảnh xung quanh, dường như hoà cùng tâm trạng với dòng người đang ngân nga trong lễ truy điệu, khiến bối cảnh cũng mang theo một tâm trạng nặng nề. Quả thật, xuyên suốt chương này, chi tiết được tác giả khai thác và lặp đi lặp lại nhiều nhất chính là hình ảnh bị tra tấn dã man của các thi thể. Đó là những thi thể “trông quá sức thảm khốc”, người thì thối rữa và phình to, người thì lộ trần các vết xương do bị lưỡi lê chém. Ở chương này, Han Kang chưa đề cập tới những kẻ thi hành hình phạt táo tợn, vô nhân tính. Thế nhưng, thông qua các chi tiết miêu tả thi thể bị đánh đập tàn nhẫn của nạn nhân, tác giả đã gợi lên một thời kỳ tàn khốc khi mạng sống bị coi rẻ, đến mức ngày qua ngày, khi phong trào càng diễn ra ác liệt, số lượng thi thể được chuyển tới nơi cậu bé Dong – Ho làm việc ngày càng nhiều. Và tiếng khóc của người thân càng thêm đau đáu thê lương. Đó cũng là lúc lời chất vấn lương tâm trong cậu trỗi dậy. Cậu luôn nhớ rõ hình ảnh người bạn Jeong Dae của mình bị bắn vào mạng sườn, trút hơi thở cuối cùng mà nhìn cậu từ xa. Hơn ai hết, chính cậu là người trong hỗn loạn, đã buông tay người bạn của mình mà vùng chạy. Kể từ đó, cậu luôn phải đấu tranh với sự giằng xé, giày vò không nguôi để tin rằng mình không hề cố ý. Bằng hai chi tiết nổi bật ấy, Han Kang đã khéo léo dẫn dắt người đọc trở về thời kì đấu tranh của phong trào dân chủ Gwangju, nơi bao người ngã xuống, thân xác bị hủy hoại nghiêm trọng, bị đâm chém đến không còn nhân dạng, từ đó để lại sự ám ảnh day dứt trong tâm trí của người chứng kiến. Câu nói ở cuối chương, “Mình sẽ không tha thứ cho bất kì điều gì. Kể cả bản thân mình” hệt như lời chất vấn với lương tâm. Dong – Ho – một cậu bé tuổi đời còn quá trẻ, nhưng sống trong hoàn cảnh lịch sử ấy, đã tự biến mình thành kẻ có tội vì là người còn sống. Vì cậu đã bỏ chạy khi người bạn mình bị bắn, để giữ lấy mạng cho mình. Dù thế nào đi nữa, cậu mãi mãi sẽ chẳng thể bước ra khỏi bóng đen tội lỗi ấy. Han Kang bỏ ngỏ câu chuyện chương một ở đây, không bình phẩm về việc sai hay đúng trong hành vi của cậu bé, bởi lẽ, trong giây phút sinh tử, ai cũng mong được sống. Có chăng, sai ở đây là những người sẵn sàng đánh đập, nổ súng để cướp đi mạng sống con người. Để rồi khiến người ở lại mãi day dứt vì sự sống của mình.

Đến với chương hai “Hơi thở đen”, Han Kang đưa người đọc hoà vào dòng suy nghĩ của linh hồn sau khi chết. Tác giả vẫn mở đầu chương với một không khí ảm đạm, nhưng ở chương này, lại thêm phần thê lương khi từng cái xác bị dày xéo lên nhau đầy tàn nhẫn “Xác chúng tôi được chất lên nhau lớp lớp theo hình chữ thập”. Qua đó, tác giả làm sáng tỏ câu hỏi nhân sinh của chương một “Thân xác chết rồi, linh hồn sẽ về đâu nhỉ?” qua dòng suy nghĩ của linh hồn cậu bạn Jeong Dae. Thân xác chết rồi, nhưng linh hồn vẫn đang vật vờ chứng kiến vết thương ở mạng sườn rỉ máu, chứng kiến hàng chục cái xác người sau khi bị tra tấn nghiêm trọng vẫn được đưa đến hằng đêm, chuẩn bị cho cuộc thiêu xác bí mật. Thân xác đang phân huỷ, nhưng linh hồn vẫn mãi chẳng biết “Ai đã giết mình? Ai đã giết chị mình? Tại sao lại giết chúng tôi?”. Câu hỏi ấy lặp lại xuyên suốt chương hai như một công cuộc mà nhân vật muốn tìm ra sự thật. Và rồi, cậu phát hiện người bạn mình còn sống, những người chị yêu quý của mình cũng đã bị giết, cậu cũng phát hiện hành vi chôn xác người của Hội chữ Thập đỏ nhằm che dấu sự thật. Thế nhưng, giờ đây cậu chỉ là linh hồn, đến cả những linh hồn khác cũng chẳng thể giao tiếp hay chạm tới, làm sao để cậu có thể lên tiếng cho sự thật ấy. Có lẽ vì thế mà câu hỏi này trở thành điểm nhấn quan trọng và chứa đựng giá trị nhân sinh sâu sắc của chương. Linh hồn ấy cứ lặp lại câu hỏi, như điên cuồng, như phẫn nộ, để rồi lại tuyệt vọng trước sự tan hủy của thể xác khi vẫn không tìm được lý do cho cái chết của mình, khiến cho người đọc dường như cũng cảm thấy chênh vênh, mất phương hướng sau những hành động tàn bạo vô nghĩa của những kẻ cầm quyền.

Sang đến chương ba “Bảy cái tát”, tác giả dẫn dắt người đọc qua nhân vật Eun – Sook, một nhân viên làm việc trong nhà xuất bản. Những kí ức về năm tháng đấu tranh dân chủ của hàng chục sinh viên, cùng với cậu bé Dong – Ho trong buổi giữ chân lực lượng quân đội đã để lại trong cô một vết thương sâu sắc. Để rồi, khi đối diện với bảy cái tát – là bảy lần vết thương xoáy sâu vào tinh thần khi chính bảy cái tát ấy đã vạch rõ những gì vô nhân tính nhất, tàn bạo nhất. Hơn ai hết, bước ra từ quá khứ ấy, cô đã muốn quên đi. Thậm chí, cô còn đặt kế hoạch mỗi ngày sẽ quên đi một cái tát, đến tròn một tuần cô sẽ quên được. Nhưng không, sự tổn thương tâm lí trong quá khứ, từ việc tận mắt chứng kiến cuộc trấn áp khốc liệt, mất đi cậu bé Dong – Ho đáng quí, cho đến các cuộc điều tra bạo lực vì các bản thảo lên tiếng về phong trào Gwangju đã khiến cho cuộc sống cô chỉ còn những ám ảnh nghiệt ngã. Một chi tiết ẩn dụ mà Han Kang gửi gắm vào chương này đã làm nổi bật lên sự ám ảnh dai dẳng mà người trong cuộc mãi mãi không thể quên là chi tiết đài phun nước. Năm năm trước, do công cuộc đấu tranh của sinh viên bị đàn áp, đài phun nước đã cho ngưng hoạt động. Ấy vậy mà chỉ một thời gian sau, nó đã hoạt động trở lại, dường như là sự nỗ lực của giai cấp cầm quyền nhằm lãng quên quá khứ đen tối ấy. Nhưng, làm sao mà cô – người đã chịu quá nhiều tổn thương, mất mát có thể quên được. Đến tận bây giờ, cô vẫn hổ thẹn vì mình đã sống, đã đói và đã thấy thèm thức ăn khi những người nằm đó đã chết. Cô vẫn sống lay lắt, vật vờ với suy nghĩ “cô mong mình mau già đi. Cái mạng sống khốn khiếp này, cô muốn nó đừng kéo dài quá lâu”.

Nếu như các chương trước, Han Kang chỉ tái hiện lại sự khốc liệt của quá khứ qua những cái xác bị đánh đập đến mất nhân dạng, bị chất đống rồi thiêu rụi, hay qua kí ức của người còn sống, thì đến với hơn nửa đầu chương bốn “Thép và máu”, Han Kang đã dùng chính ngòi bút đanh thép và sắc sảo của mình để vạch trần các hành vi bạo lực vô nhân tính của những kẻ trong nhà giam thông qua lời kể của một tù nhân giấu tên. Một hình ảnh mang tính biểu tượng và châm biếm nghiệt ngã nhất được nhà văn lặp lại nhiều lần trong chương này chính là loại bút bi mực đen mang thương hiệu Monami. Chỉ một cây bút bi bé nhỏ, vô tri vô giác, nhưng những kẻ trong nhà giam đã dùng chúng làm công cụ tra tấn khốc liệt. Chúng tra tấn tù nhân đến nỗi “lộ cả xương trắng. Máu trộn lẫn với mủ,…, Sau khi bỏ miếng bông ra, họ lại nhét vào chỗ đó, sâu hơn, vặn siết mạnh hơn.” Hàng loạt các hành vi vô nhân tính ấy đã được thực thi, lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt mấy tháng ròng rã. Cũng ở chương này, Han Kang khai thác sự đối lập trong bản chất của hai thế lực một cách sâu sắc nhất. Một bên là lực lượng quân đội, dù mang danh nghĩa thực thi chính nghĩa, nhưng trên đường tiếng đến cuộc trấn áp, chúng sẵn sàng trang bị tổng cộng 800.000 viên đạn, trong khi dân số thành phố này chỉ đến 400.000, thậm chí, họ sẵn sàng nã súng hai lần, chỉ để đàn áp dã man, thậm chí hả hê mà tiêu diệt toàn bộ dân cư của nơi đây. Thế nhưng, đối với những cô cậu bé, những sinh viên nắm giữ nhiệm vụ bảo vệ nơi nhận xác của người dân. Dù trong tình thế nguy hiểm nhất , họ vẫn lựa chọn “ Chúng tôi không giết ai hết”, để giữ lương tâm của mình được trong sạch. Chi tiết đối lập này được nhắc lại xuyên suốt hơn nửa đầu chương, phải chăng là tấm gương mà Han Kang – qua ngòi bút của mình - dựng lên tấm gương soi chiếu rõ “bản chất của người”.

Nửa sau chương bốn, Han Kang tập trung đi sâu vào phân tích thế giới nội tâm nhân vật qua những chi tiết rất “đời”. Ở trong nhà giam, những tù nhân, dù đối diện với những thủ đoạn hành hạ đau đớn, dù hứng chịu mùi phân, nước tiểu trộn lẫn cùng mồ hôi, máu và nước mắt, dù đã sẵn sàng để rời xa thế giới này, ấy vậy mà ngay cả khi họ đã trở nên bất lực với cái chết vì cái chết giờ đây quá đỗi tầm thường, thì chính cái đói lại níu giữ họ về thực tại nghiệt ngã “Ngay cả lúc kể về anh họ đã chết Young Jae cũng không khóc, vậy mà lúc được hỏi muốn ăn gì, cậu bé đã đưa tay lên dụi mắt khóc mà trả lời”. Tất cả những kí ức đau thương đó đã in sâu vào tâm trí tất cả tù nhân. Hơn ai hết, nhân vật Kim Jin Soo, người nắm vai trò lãnh đạo, đặc biệt là về mặt tinh thần cho những người tình nguyện nơi nhà thi đấu, bước ra khỏi tù giam và những tháng ngày đau khổ nhất trong cuộc đời, nhưng anh vẫn không thôi đau đáu về sự hi sinh của những đứa trẻ năm ấy. Lời khuyên trong lần gặp mặt cuối cùng trước khi sinh li tử biệt “ Các em phải đầu hàng. Nếu các em thấy sắp chết đến nơi thì phải hạ súng đầu hàng ngay lập tức. Phải tìm đường sống sót” đã mãi mãi không thể trở thành hiện thực khi năm đó, chúng đã kiên trì mà chết trong biển máu. Dư âm do tội lỗi và các cuộc tra tấn đã hình thành trong anh những hành động hệt như người tù dù đã được ra ngoài lâu năm, hình thành trong tâm trí anh tội lỗi vì là người còn sống sót. Câu hỏi ở ngay gần cuối chương “Con người có phải là sinh vật tàn nhẫn từ trong bản chất” là lời chất vấn đay nghiến cho những người sẵn sàng huỷ hoại mạng sống của người khác, tra tấn họ hung tợn, hay là lời nhân vật Kim Jin Soo tự chất vấn mình trước sự hi sinh của những người trong đêm ấy? Hoặc cũng có thể, đó là câu hỏi còn bỏ ngỏ mà Han Kang lẫn độc giả vẫn đang đi tìm câu trả lời?

Ở chương năm “Mắt của đêm”, trái tim độc giả lại thêm một lần quặn thắt trước số phận nghiệt ngã của nhân vật Im Jeon Soo – người sống sót hiếm hoi trong cuộc tra tấn dã man sau khi bị bắt về từ cuộc nổi dậy. Bước ra từ sự kiện lịch sử đau thương ấy, cả thể chất và tinh thần của cô đều hứng chịu những nỗi mất mát lớn lao. Năm ấy, vì sự tra tấn dã man, từ việc bị gọi là “con Đỏ” đầy khinh bỉ, bị xâm hại tập thể, đến những hành vi phá hoại bộ phận sinh dục đầy tàn nhẫn đã lấy đi thiên chức làm mẹ thiêng liêng của cô, khiến cô không thể sống cuộc sống như bao người phụ nữ bình thường khác. Những hình thức tra tấn ấy cũng để lại nỗi đau ám ảnh, khiến cho cuộc hôn nhân tưởng chừng là điểm tựa tinh thần duy nhất, cũng chỉ duy trì được vỏn vẹn tám tháng. Xuyên suốt chương năm này, Han Kang tập trung đi sâu vào thế giới nội tâm đầy phức tạp và giằng xé của nhân vật khi cô luôn phải lựa chọn giữa việc lãng quên và ghi nhớ lại sự kiện năm ấy. Có những nỗi đau, con người ta chỉ muốn quên đi để bắt đầu lại cuộc sống mới. Cũng có những nỗi đau mà vĩnh viễn người trong cuộc không thể quên, càng không thể lảng tránh. Làm sao cô có thể quên được hành vi khiến cô vĩnh viễn mất đi khả năng làm mẹ, làm sao cô quên được bao nhiêu người năm đó cũng bị xâm hại giống như cô, nhưng rồi lại mất mạng, thân xác lạnh lẽo bị di chuyển đến nơi vô định nào đó. Hình ảnh chiếc máy ghi âm cũng được lặp lại suốt toàn bộ chương truyện, vừa là công cụ để tìm kiếm sự thật, tái hiện lại lịch sử, cất lên tiếng nói về lương tâm, về nhân tính, nhưng ở mặt khác, nghiệt ngã hơn, đó cũng là thứ đồ vật tàn nhẫn khơi gợi lại những gì đau thương nhất. Giờ đây, tuy cô còn sống sót, nhưng thể xác đã kiệt quệ, tinh thần đã héo hắt. Cô chỉ có thể tách mình khỏi các hoạt động xã hội, bó mình trong vòng lặp hạn hẹp. Có lẽ, không phải vì cô không muốn sống một cuộc đời bình thường, mà những tổn thương cùng nỗi cô đơn quá lớn khiến cho cô không còn đủ hy vọng, niềm tin và sức mạnh để bắt đầu lại. Vậy nên “đôi mắt của đêm”, có chăng là đôi mắt vẫn đau đáu nhìn về quá khứ, đôi mắt mãi chẳng thể hồi sinh sự sống cho hiện tại và tương lai.

Bước sang chương sáu – chương cuối cùng của cuốn sách “Về nơi hoa nở”, Han Kang không lựa chọn khai thác góc nhìn của các nhân vật trực tiếp trải qua cuộc đấu tranh, mà đi sâu vào cảm xúc của người mẹ. Ở chương này, ngôn ngữ được sử dụng nhẹ nhàng hơn, không còn những hình ảnh thân xác bê bết máu hay các cuộc tra tấn dã man, mà tựa như lời thủ thỉ tâm tình mà người mẹ dành cho đứa con thân yêu của mình. “Một người mẹ mất con, nước mắt còn nhiều hơn biển cả”, và suốt ba mươi năm, người mẹ ấy vẫn miệt mài ôm bóng hình mãi mãi bé thơ của con mà sống. Năm đó, câu nói cuối cùng của người mẹ dành cho con là “Về nhà trước khi trời tối, về rồi cả nhà cùng ăn cơm”, nhưng con thì mãi nằm lại dưới mồ đất lạnh lẽo, cả người con và người mẹ ấy đều vĩnh viễn không thể lấp đầy được bữa cơm “cả nhà” ấy nữa. Cuộc đấu tranh đã lấy đi cả thế giới của người mẹ, khoảnh khắc nhận thi hài và chôn cất đứa con bé nhỏ, mẹ không khóc, nhưng trái tim người mẹ quặn thắt lại từng cơn. Không ai đo được tấm lòng của người mẹ, càng không có ai hiểu hết nỗi đau mà mẹ đang chôn cất trong tim. Có lẽ vì thế mà “nơi hoa nở” cũng trở thành biểu tượng trong suốt chương truyện, vì nó là biểu tượng của tấm lòng người mẹ. Nơi hoa nở ấy là nơi con hồi lên sáu, lên bảy, vẫn nắm tay kéo mẹ đi ngắm. Nơi hoa nở ấy, chứng kiến ròng rã ba mươi năm trời người mẹ mất con. Và cũng ở nơi hoa nở ấy, con mãi mãi ở hình hài đẹp nhất, không máu me bê bết, không bị huỷ hoại thân xác, chỉ là cậu bé mặc bộ “đồ thể dục màu xanh da trời, bên ngoài khoác lớp áo quân sự”. Cả chương truyện, rất ít những từ ngữ, hình ảnh tàn nhẫn như những chương trước, nhưng nỗi đau hằn sâu vào từng câu chữ. Nỗi đau ấy ngự trị, bước qua cuộc đấu tranh, vẫn âm ỉ rỉ máu trong trái tim người ở lại. Han Kang, qua đó cũng dấy lên hồi chuông cảnh tỉnh sâu sắc, cuộc chiến qua đi, những nỗi đau, sự mất mát sẽ chẳng gì đo đếm được. Đặc biệt, Han Kang lựa chọn góc nhìn của người mẹ, không chỉ để cho thấy các cuộc đấu tranh, người hy sinh sẽ nhiều vô số kể, mà còn để thấy người ở lại mãi mãi chẳng thể vượt qua những tổn thương tâm lý khi mất đi người thân yêu. Đặc biệt, tình yêu người mẹ luôn là biểu tượng bất diệt của mọi đất nước, dù đó là cuộc đấu tranh vì mục đích gì đi nữa. Tôi đã từng thổn thức biết bao trước Mẹ Thứ - biểu tượng bất diệt của bà mẹ Việt Nam anh hùng, chín lần mẹ tiễn con đi, chín lần mẹ khóc lặng lẽ, và cũng là chín lần tim mẹ quặn thắt khi chín lần giấy báo tử lần lượt gửi về. Trong mâm cơm sum vầy, chỉ còn thấy người mẹ cao cả ấy cùng chín chén cơm nhang khói, nhưng dáng hình các con đã hoà vào sông núi quê hương.

Với đoạn kết “Ngọn đèn tuyết phủ”, Han Kang đã kể lại quá trình mà tác giả gặp gỡ nhân chứng, tìm hiểu lịch sử và thu thập tài liệu viết nên cuốn sách. Han Kang từng thừa nhận “tác phẩm mà tôi không thể trốn tránh, không thể không viết, nếu không viết, không vượt qua, có lẽ tôi sẽ không thể đi tiếp đến bất cứ đâu’. Quả thật, xuyên suốt sáu chương, sáu nhân vật, sáu cuộc đời khác nhau. Bước qua khỏi những năm tháng khốc liệt của phong trào dân chủ Gwangju, có người đã chết, có người còn sống, cũng có người tuy rằng sống, nhưng cuộc đời lại éo le, ám ảnh và vật vờ chỉ để trông chờ cái chết. Một câu hát chứa đựng giá trị triết lí nhân sinh sâu sắc, được tác giả lặp lại nhiều lần trong các chương “Sau khi bạn chết, chẳng thể nào làm được lễ tang/Cuộc đời tôi sẽ là lễ tang của bạn”. Người đã hi sinh, sẽ chẳng bao giờ tổ chức được lễ tang cho chính mình. Vậy nên, những người ở lại, những người dành cả cuộc đời còn lại để ám ảnh, day dứt, tội lỗi trước cái chết của bạn, chính là lễ tang. Qua đó, Han Kang một lần nữa nhấn mạnh, nỗi đau từ cuộc chiến, dù là người đã hi sinh, hay người còn vật vờ sống sót, đều là những tổn thương sâu sắc, chẳng thể nào sửa chữa hay đền bù.

“Bản chất của người” – một tác phẩm vượt lên tất cả nỗi đau, mất mát và sự hi sinh để nhắc nhớ độc giả về giá trị của nền dân chủ đáng quý ở Hàn Quốc ngày hôm nay. Một tác phẩm mà Han Kang không thể trốn tránh, qua đó, tái hiện lại một Gwangju thời kì đẫm máu và đầy tang thương, kéo theo số phận của những con người bước ra từ cuộc chiến, nơi lương tâm con người phải đau đớn tự vấn trước tội ác và bạo lực chiến tranh…