Quyển sách tôi yêu: Bản chất của người (Han Kang) - Những lịch sử bị lãng quên

Người ta nói với nhau về vai trò tái trình hiện thực của văn chương. Nhưng trong một khía cạnh nào đó, chẳng phải báo chí, lịch sử đã đảm trách nhiệm vụ đó rất tốt hay sao? Vậy điều văn chương tái hiện có gì khác để khiến người ta hiểu thêm về lịch sử của nhân loại? Văn học sẽ nói với chúng ta một lịch sử cá nhân, một lịch sử có thể đã bị kiểm duyệt, bị quên lãng. Và ta gặp được lịch sử đó trong “Bản chất của người” của Han Kang.

Han Kang trở thành chủ nhân Nobel Văn học 2024, đánh dấu sự phá vỡ nhịp chững và cả những sự kiện vô tiền khoáng hậu của người phụ nữ, người Châu Á, người Hàn Quốc trên bảng vinh danh của giải thưởng này: người phụ nữ thứ 18, người Châu Á thứ 3 (tính từ Mạc Ngôn, 2013) và là người Hàn Quốc đầu tiên đạt được Nobel Văn học. Nói ra điều này, để ta lưu tâm hơn đến những sáng tác của Han Kang mà “Bản chất của người” là một trong số đó.

“Bản chất của người” viết về sự kiện thảm sát Gwangju ở Hàn Quốc. Han Kang tái hiện lại hiện thực mà với tôi, chúng không được nhắc đến trong những trang lịch sử của quốc gia này. Một hiện thực của những con người cá nhân nhưng là phần không thể thiếu của lịch sử Hàn Quốc. Và đó cũng là lịch sử khắc hoạ nên chân dung của bản chất người - thực chất là rất tàn bạo và không thanh cao. Chém giết người vô tội vạ, tra tấn người để thỏa cái tôi độc tài của đấng cầm quyền, kể cả với phụ nữ và trẻ vị thành niên. “Một em học sinh cấp ba chỉ vô tình đưa tay lên sờ mặt cũng đã bị đánh đập, giẫm đạp tới lúc ngất xỉu nằm rũ ra” (tr.120). Hay cảnh những người phụ nữ nổi dậy đấu tranh dân chủ phải lột sạch quần áo vì cho rằng “đám người kia sẽ không thể nào động tới tấm thân trần của những cô gái trong trắng, thứ riêng tư kín đáo nhất mà họ có, thứ mà tất cả mọi người đều coi là quý giá ấy” (tr.175). Nhưng rồi, họ bị kéo lê trong trạng thái nằm sấp và bị vỡ ruột non. Thân thể của người nữ được phơi bày như một thứ vũ khí kháng cự lại những nòng súng, đạn bom của cấp chính quyền vô nhân. Vô số những cách hành hạ tù nhân, đôi khi chỉ bằng một chiếc bút. Chiến tranh tạo cơ hội cho sự bình thường hóa cái chết - điều khiến con người ta lưu tâm nay trở nên tầm thường và chẳng đáng để nghĩ ngợi. Có chăng là quá ư vô hậu và rất mực vô lý?

Không cần nói thêm quá nhiều về hiện thực của thảm sát Gwangju trong tác phẩm, ta nhìn sâu hơn về một hiện thực khẽ khàng nhưng lặng người hơn hết. Những tưởng, con người ta bước ra khỏi chiến tranh thì sẽ êm chân quay về cuộc sống bình thường. Nhưng chính lúc đó, họ thực chất lại phải bước vào một cuộc tự sát bởi những ám ảnh trong quá khứ. Rằng, những kẻ độc tài không chỉ đánh vào thân thể của những con người đã nằm xuống ở quá khứ mà đã bắn súng và làm chết luôn cả hiện tại và tương lai của những người ở lại. Đó là lúc mẹ của Dong Ho sống không bằng chết, day dứt và lung lay niềm tin, những giá trị người của một người mẹ vốn hiền hậu. Trong cơn hoang mê của một người mẹ mất con, bà thoáng “đổ lỗi” cho người bạn của con trai mình Jeong Dae - người mà bà cho là lý do giữ chân con mình vì muốn tìm xác bạn trong cái đêm định mệnh. Nhưng rồi, bà bỏ suy nghĩ đó và nhớ lấy những lần “hai đứa vừa chơi cầu lông vừa cười” (tr.212). Với tôi, đó chính là khoảnh khắc của bản chất người. Đi ra khỏi chiến tranh, gánh chịu những tổn thất của nó, người ta đau đớn trong hoang hoải giữa những chất vấn mà lẽ thường là rất không nên. Nhưng người đau chân thì có bao giờ đủ lý trí để nghĩ cho bất cứ thứ gì khác ngoài cái chân đau của mình, như lời Nam Cao từng nói.

Vốn dĩ, tôi không định phân tích quá nhiều vào từng chi tiết, câu văn, nhân vật của tác phẩm. Tôi muốn dành nó cho bạn - người sẽ tự mình đọc lấy và hiểu nỗi đau của người dân Hàn Quốc và rộng hơn là bộ mặt quyền lực ảo của chiến tranh trong tiểu thuyết. Tôi muốn nhìn được cái gì đó sâu xa hơn về chiến tranh, về những gì văn học phản ánh.

Chiến tranh, trong con mắt những kẻ nắm quyền, là một thứ để định vị mình trên bản đồ thế giới mà số lượng người giết là một thứ ảo tưởng khốn nạn vô cùng: “trưởng phòng Cảnh vệ của Nhà Xanh Cha Ji Cheol đã nói thế này với Park Chung Hee: Ở Campuchia, lại có thêm hai triệu người chết đấy ạ. Chẳng có lý do gì mà chúng ta không làm được như thế” (tr.235). Không cần nhìn vào những thi thể chất chồng, không cần phải hoa mỹ để giảm bớt nỗi đau của sự thật, chỉ một ý văn như vậy đã làm tê liệt đi mọi ý nghĩ trong tôi. Và đó cũng là bản chất người.

Sự truy tìm bản chất người, với Han Kang, dường như là sự dám lôi mình dậy và đối diện với những hiện thực đã qua, những ký ức muốn giấu nhẹm, những ảo tưởng cho rằng mình chẳng hề hấn gì với lịch sử dân tộc, nhân loại. Thực chất, ta vẫn sẽ cảm thấy đau dù ta nằm ở rất xa Hàn Quốc, dù lịch sử của ta không có quá nhiều mật thiết với nước bạn. Lý do là vì: ta vẫn là con người.

Vượt qua những máu me, sự bất lực trong công cuộc phất cờ hòng thay đổi hiện thực của con người trong tác phẩm, tôi tìm được câu trả lời cho cái gọi là “bản chất” của người (và cũng là của chính mình). Cái hành động “bóp cò súng” thực sự là khoảnh khắc xác quyết cho lương tâm chúng ta trong đời sống thường. Vì dễ hiểu, ai đâu lại đóng dấu mình là một tội đồ, một sát nhân. Và họ dù đối diện với nguy hiểm, dù được mặc định đã là “một phe”, “một chiến tuyến” và có thể toàn quyền bắn trả để giành lấy sự sống, chiến thắng trên bàn chơi quyền uy bằng vũ lực vẫn không thể nào bóp nổi cò súng để xử đối phương. Rằng, “chúng tôi không thể bóp cò, vì biết rằng chỉ cần nổ súng là đối phương sẽ chết. Chúng tôi là những đứa trẻ chia nhau khoác những cây súng mình chẳng thể nào bắn” (tr.133). Như khoảnh khắc Tạ trong phim điện ảnh “Mưa đỏ” (được chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của Chu Lai, Việt Nam) quyết định không nổ súng trước người lính bên kia chiến tuyến vì thấy bức ảnh vợ con của anh này rơi ra trong lúc chiến đấu. Đó là những khoảnh khắc “Người”, một chữ Người được viết hoa với sự trân trọng và đầy kiêu hãnh.

Ta không thể ra tay với đồng loại mình dù khác phe phái, cấp bậc. Ta không mọi rợ và tàn nhẫn dù được cho phép như thế. Và đó là một dạng thức của nỗi đau người, một day dứt, một chần chừ rất người. Như lời Chế Lan Viên từng viết trong “Thuốc”:

“Người ta đau gì đây? Đau cái kiếp người

Không phải kiếp đá - kiếp mây - kiếp chó...

Người đau - dù nỗi đau vì mình hay đau trong sử

Cũng chỉ vì mình là người.”

Vì mình là người, là người nên đau và đau nên ta biết mình là người. Đồng vọng trong cùng một sự truy tìm về bản chất người, Ko Un - một nhà thơ Hàn Quốc đã viết:

“Hướng về núi lúc hoàng hôn

Người là gì

Người là gì là gì…” (Tiếng vọng, bản dịch của Nguyễn Quang Thiều)

Người vọng tiếng ra xa, núi phả tiếng về gần. Một sự đối thoại vô hạn của người với chính mình. Đến cùng, “người là gì?”. Đó là một câu hỏi triết học không có lời giải đúng. Và những người như Ko Un, Han Kang,… vẫn đang miệt mài đi làm đầy một bể nghĩa về con người. Tiêu đề của sách là “Bản chất của người” thực chất là một băn khoăn, nghi vấn, một sự truy tìm để gọi tên một thứ thuộc về triết học. Triết gia Platon từng xác quyết hai chữ con người như sau: “Con người là sinh vật luôn đi tìm ý nghĩa”. Và trong một chiều kích nào đó, chúng ta đang lầm lũi trên hành trình đi tìm ý nghĩa của chính mình, rằng cái “chính mình” mà ta hô hào, tụng xưng nếu không biết giữ sẽ trở nên tàn bạo, bành trướng. Nhưng an tâm rằng, chúng ta khác cục đá, viên gạch, con người có khả năng tự xác lập ý nghĩa, giá trị của chính mình. Chúng ta luôn sống trong tâm thế “đang trở thành” và không ngừng đào thải, làm mới mình. Và hành trình này thì nhọc nhằn, lầm lũi và đầy rủi ro, chỉ chấm dứt khi ta chết. Ta nhọc nhằn “làm người để được là Người” (TS. Trần Ngọc Hiếu).

Năm 2025 này, đất nước tôi đón chào nhiều sự kiện trọng đại đánh dấu cột mốc 50 năm thống nhất đất nước và 80 năm Quốc khánh, xuôi mình trong không khí hân hoan nhưng cũng là lúc tôi thấy đắng đót trước sự nằm xuống của những người đi trước. Tôi nhớ đến lời viết của nhà thơ Nguyễn Duy trong bài “Đá ơi”:

“Nghĩ cho cùng

Mọi cuộc chiến tranh

Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…”

Tôi biết ơn vì đất nước mình hoà bình nhưng cũng không dặn mình nhìn ra xa để đồng cảm với bạn bè đang sống trong những bối cảnh chính trị xã hội gay gắt. Và tôi cũng không quên nhìn lại, nhìn một lần và nhiều lần nữa vào lịch sử dân tộc mình để hiểu điều gì cũng có thể xảy ra. Dù cho phần thắng có đi đâu, dù viên đạn có xuyên thủng của lính trận bên nào thì thực chất nó đã găm rất sâu vào trái tim của một người mẹ như lời Abraham Lincoln từng nói.

Trong công cuộc kiến tạo một lịch sử đủ đầy mà ở đó con người không chỉ được thống kê trong những con số ở các trang sử hay được kể qua những đồ vật, câu chuyện theo lối phóng sự ở những bảo tàng. Chúng ta có văn học để hiểu thêm, hiểu rõ, hiểu trong sự đồng cảm thực sự chứ không thô sơ, máy móc chỉ để biết. Vì sự thật đôi khi phi lý vượt qua cả những giới hạn logic của trí óc người mà ở đó ta cần hiểu bằng trái tim. “Bản chất của người” đã cho nhìn thấy những sự thật phi lý đó.

Chọn viết về chiến tranh, về ký ức, nhất là những góc khuất bị thời gian giẫm qua, Han Kang thực sự là một cây bút can đảm. Những trải nghiệm chiến tranh mà Han Kang đã chọn viết ra là những trải nghiệm mà không một sử sách nào chọn ghi lấy. Ở đó, không có người hùng được tung hô, không có những hào hứng của khởi nghĩa, phong trào. Chúng đắng đót và chua xót vì người ta phải chết, thực sự phải chết dù cho có may mắn sống sót. Đó có chăng là lí do vì sao Aristotle nhận định từ thời kỳ cổ đại: “Thơ ca chứa đựng nhiều sự thật hơn sử học”. Từ những gì được thấy trong cuốn ảnh trộm lén xem năm 12 tuổi, Han Kang của mấy mươi năm sau đã viết nên “Bản chất của người”. Và hành trình sáng tạo đó, cũng cho ta thấy ở Han Kang một bản chất của người - luôn nhìn lại để bước tiếp trong sự chu đáo, bình tĩnh hơn.

Tiểu thuyết này nói với tôi nhiều hơn về hai chữ “chiến tranh”, dẫn dắt cho tôi đi xa hơn về ý nghĩa của hai từ “văn chương”. Tôi tin rằng, những cuốn sách như vậy rất cần và luôn cần trong đời sống, nhất là đời sống có nhiều biến động và hiểm hoạ như hôm nay. Văn học đem đến những phát hiện kỳ diệu khi có khả năng khiến “người gần người hơn” như di nguyện của Nam Cao. Tôi muốn bổ sung thêm còn là “người gần Người hơn”. Tôi tin những người như William Shakespeare, những Nguyễn Du, hay Han Kang,… trong văn chương nhân loại vẫn thường chọn tâm niệm như thế. Và vì, bản chất con người còn là vô hạn. Văn chương chọn thâm nhập vào con người. Chúng ta chọn đọc lấy văn chương. Nghĩa là, chúng ta chọn bước vào một cuộc chơi không khoan nhượng của những ý nghĩa, những suy tư, những gợi vẫy vô cùng…

Dong Ho, Jeong Dae, Jeong Mi, Kim Jin Soo,… bao nhiêu người đã chết trong những cuộc chiến như vậy, không chỉ ở Hàn Quốc mà là ở toàn thế giới? Sử học sẽ nói được. Nhưng… sử học có thể nào thống kê được những cái chết hậu chiến vì những đổ vỡ sau máu, đạn, súng? Những cái chết không trực tiếp bị bắn, nã, đâm, chém đến mức vỡ toác đến bê bết máu me… nhưng cũng chẳng ra hình hài gì.

------------------------------------------------------------------------------------

VĂN DUY PHÚC

SINH VIÊN NĂM 3 - CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ CÔNG CHÚNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG